Showing posts with label Thực đạo. Show all posts
Showing posts with label Thực đạo. Show all posts

Wednesday, March 19, 2014

Báo Đà Nẵng: Xây dựng thương hiệu quốc gia cho ẩm thực và phở Việt

Đón nghe bài phỏng vấn do VOV thực hiện nhân tọa đàm Xây dựng thương hiệu quốc gia: “Ẩm thực Việt - Phở Việt" (08/03/2014). Chương trình dự kiến phát sóng trên hệ VOV1, 23/03/2014, lúc 13h00 (nghe trực tuyến tại đây: http://vov1.vov.vn//Default.aspx), trên hệ VOV22, 23/03/2014, lúc 11h30, phát lại lúc 21h00 cùng ngày (nghe trực tuyến ở đây: http://vov2.vov.vn/Default.aspx). 
pho
 Phở là món ăn tiêu biểu cho ẩm thực Việt Nam cũng như văn hóa Việt Nam.

TS Nguyễn Nhã cho rằng, nếu chúng ta khắc phục được chuyện an toàn thực phẩm, cộng thêm tiếp thị tốt thì ẩm thực Việt Nam nói chung và phở Việt Nam nói riêng sẽ trở thành thương hiệu quốc gia. Đó là cách tiếp thị tốt cho hình ảnh của Việt Nam trên phương diện văn hóa.
* Thưa TS Nguyễn Nhã, nhiều người biết tới ông với tư cách là nhà nghiên cứu lịch sử, đặc biệt quan tâm tới vấn đề chủ quyền biển đảo. Nhưng có lẽ chưa mấy người biết, một quan tâm rất lớn nữa của ông bên cạnh sử học là ẩm thực. Ông có thể chia sẻ về điều này?
- Tôi là nhà nghiên cứu lịch sử, mà lịch sử là quá khứ. Tôi cũng từng là trưởng nhóm nghiên cứu phát huy truyền thống Việt Nam. Từ năm 1975, tôi xây dựng nhóm nghiên cứu văn hóa ăn uống Việt Nam.
Năm 1996, ngay tại nhà, tôi giới thiệu 40 món ăn 3 miền với các nhà nghiên cứu như: Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, Sơn Nam, Toan Ánh, Hoàng Xuân Việt… Năm sau, tôi giới thiệu 170 món ăn tại một khách sạn lớn tại Sài Gòn. Tiếp đó, chúng tôi còn tổ chức hội nghị khoa học có quy mô quốc gia lần đầu tiên về bản sắc Việt Nam. Tôi cũng tổ chức vài hội thảo khoa học khác về ẩm thực trị liệu cũng như các tiệc đãi quốc khách.
Năm 2007, tôi cùng 8 người sáng lập Viện Nghiên cứu ẩm thực Việt Nam và tôi là Viện trưởng. Năm 2012, tôi ngừng tham gia đơn vị này nhưng lại tiếp tục làm trưởng đề án Bếp Việt. Trước mắt, tôi đã thành lập CLB văn hóa ẩm thực Việt Nam của các doanh nhân. Các chuyên gia ẩm thực của Pháp khuyên rằng, muốn quảng bá bếp Việt ra thế giới, vai trò của giới doanh nhân rất quan trọng.
* Như vậy có thể thấy mối quan tâm của ông với ẩm thực đã bắt đầu từ rất lâu và song song với niềm đam mê nghiên cứu sử học. Sự khác biệt và thú vị giữa hai lĩnh vực nghiên cứu này như thế nào, thưa ông?
- Theo tôi, về việc nghiên cứu ẩm thực Việt Nam, giới sử học trong nước lâu nay ít quan tâm. Bây giờ, tôi là một trong những người nghiên cứu trở lại quá khứ. Cho đến nay, tôi mới chỉ tiếp cận được những món ăn có công thức làm từ thế kỷ 18 trở lại.
Tôi nghĩ, món ăn truyền thống trong gia đình hay trong cung đình xưa rất phong phú. Nhưng bây giờ, khi đưa các món ấy ra nhà hàng, các đầu bếp cũng ít biết về những món đó. Vì vậy, các món ăn bị pha tạp quá nhiều.
Nghiên cứu ẩm thực Việt Nam là cả vấn đề lớn. Kể từ khi bắt đầu nghiên cứu và tổ chức các hội thảo, tôi đã có 3 cuốn sách: Bản sắc ẩm thực Việt Nam, Độc đáo ẩm thực Thăng Long - Hà Nội, Độc đáo ẩm thực Huế. Mỗi cuốn sách là đặc điểm ẩm thực tiêu biểu của từng vùng. Thăng Long - Hà Nội có khoảng hơn 100 công thức nấu món ăn truyền thống trong gia đình. Ở Huế còn khoảng 200 công thức.
Sau khi nghiên cứu ẩm thực các vùng, bây giờ tôi muốn đi vào món ăn cụ thể. Và tôi đang nghiên cứu lịch sử của phở, cách chế biến và những nét văn hóa đi liền với món ăn này. Tôi cho rằng, phở là món ăn tiêu biểu cho ẩm thực Việt Nam cũng như văn hóa Việt Nam. Hy vọng với công trình nghiên cứu thật sâu của tôi, người ta sẽ hiểu hơn về những đặc trưng độc đáo của món ăn đã có khoảng hơn 100 năm nay.
* Từ nghiên cứu theo diện (tức là ẩm thực các vùng miền), tới nghiên cứu theo điểm (đi vào cụ thể từng món ăn), hẳn ông đã nhận ra một nét nào đó xuyên suốt trong tinh thần ẩm thực của người Việt từ góc nhìn văn hóa?
- Ngay tại Hội nghị khoa học Bản sắc Việt Nam trong ăn uống vào năm 1997, tôi đã có bài về chiến lược định hình và phát huy truyền thống ăn uống của Việt Nam. Khi đó, tôi đã đưa ra 9 đặc trưng của ẩm thực Việt Nam.
Sau này, khi tham gia Viện Nghiên cứu ẩm thực Việt Nam, tôi đúc kết mấy điều: ẩm thực Việt Nam lấy tự nhiên làm gốc, vừa ngon lại vừa lành. Rất ít mỡ, ít thịt, nhiều rau, củ, quả. Từ nguyên liệu chính tới các gia vị đi kèm, ăn kèm cũng đều là tươi sống. Trong cách nấu, người Việt thích luộc, hấp để giữ được vị tự nhiên của thực phẩm.
Chẳng hạn, với món phở, trong thành phần chính của nó đã có nhiều chất bổ dưỡng, lại có thêm các loại rau và gia vị đi kèm cũng là những chất bổ dưỡng khác. Ngay cả hành ăn kèm phở cũng có tác dụng tiêu mỡ, tốt cho sức khỏe.
Như vậy, chỉ một món ăn như phở, tùy theo cơ thể mỗi người, có thể ăn thêm hay bớt tùy theo nhu cầu. Phở có khả năng đáp ứng sở thích của từng người. Người ta nói ẩm thực Việt Nam rất đa dạng, theo tôi, phở là một trong những cái tiêu biểu cho tính đa dạng ấy. Vì nếu phở truyền thống là phở gánh ở Hà Nội, nhưng vào Nam đã khác, sang nước ngoài lại khác nữa. Vì vậy, tôi mới nói, chúng ta phải có cái “chuẩn Việt”; từ cái chuẩn đó, người Việt Nam khi giới thiệu phở truyền thống có thể sẽ khác phở đã được biến tấu đi ở các vùng miền, nhưng vẫn giữ được cái được gọi là “chuẩn Việt” ấy.
* Ông có dịp thưởng thức ẩm thực của nhiều nước trên thế giới. Theo ông, vị thế của ẩm thực Việt trên mặt bằng chung của thế giới như thế nào?
- Tất cả các nguyên vật liệu và mùi vị trong món ăn Việt Nam luôn bảo đảm sự cân bằng. Khi đã cân bằng, tự nhiên nó hợp với nhiều người.
Và nữa, như tôi đã nói, món ăn của mình lại có chuyện “thêm” và “bớt”. Ví dụ, tôi là người thích ăn cay thì có thể thêm ớt. Tôi thích ăn béo thì có nước béo. Tôi thích thêm thịt thì có thịt, v.v…
Tôi từng gặp Chủ tịch Hội Khoa học công nghệ thực phẩm, là Tổng Giám đốc của một công ty kinh doanh gạo và thực phẩm ở Hàn Quốc. Ông cho biết, ông đi từ Hà Nội tới thành phố Hồ Chí Minh, ở đâu ông ăn cũng thấy ngon. Điều này không có ở những nước khác.
Hiện nay, CNN cũng đánh giá, trong 50 món ăn ngon của thế giới có món phở, gỏi cuốn của Việt Nam.
Như vậy, hiện nay Việt Nam có khoảng vài món mà đâu đâu người ta cũng biết và thích. Nhưng chúng ta có tới hơn 3.000 món ăn. Bên cạnh những món đã quen, biết đâu còn nhiều món ăn truyền thống khác có thể đã mai một, ví như món chả đẫy tôi từng giới thiệu và nhiều người rất thích.
Tôi nghĩ rằng, trong tương lai, nếu các doanh nhân của ta làm tốt, sẽ không chỉ có vài món, mà có thể là hàng chục món ăn của ta được thế giới biết đến.
Nếu chúng ta khắc phục được chuyện an toàn thực phẩm, cộng thêm tiếp thị tốt thì đến một lúc, theo tôi, ẩm thực Việt Nam nói chung và phở Việt Nam nói riêng sẽ trở thành thương hiệu quốc gia. Đó là cách tiếp thị tốt cho hình ảnh của Việt Nam trên phương diện văn hóa.
* Tại sao ông cho rằng, chúng ta cần xây dựng thương hiệu quốc gia cho ẩm thực Việt và phở Việt?
- Theo tôi, tất cả những gì xuất khẩu ở hạng nhất nhì thế giới hiện nay đều liên quan đến ẩm thực. Đó là gạo, cà-phê, hạt điều, cá, tôm, v.v… Khắp nơi trên thế giới đều có các quán ăn Việt Nam, nhất là phở. Nhìn lại thị trường trong nước cũng thấy ẩm thực là lĩnh vực rất quan trọng.
Việt Nam có nhiều món ăn ngon, nhưng phở vẫn là món mang nhiều đặc trưng tiêu biểu cho văn hóa Việt. Văn hóa Việt là nền văn hóa được giao lưu với nhiều nền văn hóa trên thế giới. Phở cũng vậy, nó phát triển rất mở, đến nỗi phở mỗi vùng lại có những khác biệt. Sự biến tấu đúng hay không còn do hoàn cảnh, nhưng nếu biến tấu mà vẫn giữ được bản sắc thì rất tốt, vì nó thể hiện tính đa dạng, tính mở của văn hóa Việt Nam. Ngay trong cách ăn phở cũng thể hiện sự toàn tâm toàn ý. Vì ăn phở mà không tập trung ăn khi nóng sốt thì làm sao ngon được.
Tôi nghĩ rằng tất cả những điểm vừa nêu đã thể hiện bản sắc văn hóa Việt Nam. Và tất cả những gì nằm trong văn hóa Việt Nam đều có những cái hay, nhưng chưa có cái nào nổi bật bằng văn hóa ẩm thực và văn hóa phở.
* Ông và các cộng sự đã và đang làm gì để cụ thể hóa chiến lược xây dựng thương hiệu quốc gia cho ẩm thực Việt và phở Việt?
- Trước mắt, chúng ta phải quảng bá ngay với những người nước ngoài ở Việt Nam. Hiện nay, tình trạng pha tạp giữa ẩm thực Việt và ẩm thực các nước Tàu, Tây rất rõ. Do đó, nếu muốn quảng bá, phát triển ẩm thực ra thế giới, ta cũng cần chuẩn hóa hệ thống nhà hàng, chuẩn hóa những món ăn của ta. Nước ta chưa có công ty nào như công ty Hoàng gia ở Thái Lan. Họ đã phát triển hơn 8.000 nhà hàng chuẩn kinh doanh ẩm thực Thái Lan trên khắp thế giới.
Vấn đề yếu nhất của ẩm thực Việt Nam hiện nay là an toàn vệ sinh thực phẩm. Do đó, chúng tôi đề nghị các doanh nghiệp chuẩn bị thực hiện mẫu chuỗi nhà hàng bảo đảm từ thực phẩm sạch đến bếp sạch…
* Xin cảm ơn ông!
“Ngày 10-4 tới, chúng tôi sẽ tổ chức Hội thảo Pháp - Việt về vấn đề quảng bá bếp Việt ra thế giới, trong đó nói nhiều về chuyện phục dựng ẩm thực cung đình Huế về an toàn thực phẩm. Ngày xưa, khi hoàng đế ăn, nếu thức ăn không an toàn thì người phục vụ bị xử trảm. Bây giờ khách hàng là “thượng đế”, nếu thượng đế ăn mà không an toàn thì cũng phải bị xử lý thôi”.
TS NGUYỄN NHÃ
TRẦN ĐẮC LUÂN thực hiện

Thursday, January 23, 2014

Mâm cỗ truyền thống của người Việt

* Bài viết này có trong ấn phẩm "Bản sắc ẩm thực Việt Nam" do Đề án Bếp Việt chủ biên, có thể mua bản sách giấy tại các nhà sách và đọc thử 25 trang hoặc mua bản mềm qua mạng sachbaovn.vn.

TTO - Tết thường bắt đầu từ 30 tháng Chạp (ít nhất đến mùng 4, mùng 5) ở một số nơi, người ta ăn Tết vui chơi, hội hè đình đám…kéo dài đến hết tháng Giêng. Thế nhưng, việc chuẩn bị có khi bắt đầu từ những ngày đầu tháng Chạp và phải hoàn tất trước buổi trưa ngày 30. Đây cũng là cách con cháu thể hiện sự tưởng nhớ, lòng biết ơn đối với ông bà, tổ tiên của mình.

Tùy vào điều kiện mỗi gia đình mà sắp xếp chuẩn bị mâm cỗ lớn cúng đón rước ông bà vào buổi trưa hoặc buổi chiều 30, và mâm cỗ vào ngày mồng 3 hoặc mồng 4 Tết để tiễn ông bà đi gọi là cúng đưa.

Do điều kiện địa lý, thói quen trong ăn uống, phong tục của từng miền. Nên mỗi miền có mâm cỗ Tết khác nhau.Ở miền Bắc gọi là mâm cỗ, miền Trung gọi là mâm cộ, miền Nam gọi là mâm cơm cúng ông bà.
Mâm cỗ Tết miền Bắc theo đúng bài bản, thường thì 4 bát, 4 dĩa. Cỗ lớn thì 6 bát, 6 dĩa hoặc 8 bát, 8 dĩa… có khi mâm cỗ lớn phải xếp cao đến 2, 3 tầng.

Trước khi dâng cúng tổ tiên thì dùng giấy trang kim đậy các bát, dĩa thức ăn lại cho vệ sinh, tinh khiết và đẹp mắt.

Bốn bát, bốn dĩa gồm: bát giò heo hầm măng lưỡi lợn, bát bóng thả, bát miến, bát mọc. Bốn dĩa gồm: dĩa thịt gà, dĩa thịt heo, dĩa giò lụa, dĩa chả quế.

Rồi có thể thêm những dĩa như: dĩa thịt đông, dĩa giò thủ, dĩa xào hạnh nhân, dĩa lạp xưởng khô, dĩa trứng muối, dĩa cá kho riềng, dĩa nộm sứa hoặc nộm rau quả…

Bánh Tết ở miền Bắc phổ biến nhất là bánh chưng ăn kèm dưa hành.

Món tráng miệng đặc trưng thì có mứt sen, mứt quất, mứt gừng, hồng khô, ô mai mơ gừng… Đặc biệt món chè kho có tính giải độc và giả rượu.

Mâm cơm cúng ông bà ngày 30 Tết ở miền Nam, luôn luôn có thịt heo kho nước dừa với trứng hoặc cá lóc kèm dưa giá, canh khổ qua nhồi thịt (khổ qua là mướp đắng, nhưng người Nam bộ muốn chơi chữ đồng âm theo nghĩa Tiếng Việt).

Theo dân gian thì khổ qua là món ăn mong muốn sự khổ cực trong năm cũ qua đi, để tiếp đón điều tốt đẹp trong năm mới.

Các món nguội như gỏi ngó sen, tai heo ngâm dấm, tôm khô - củ kiệu, giò heo nhồi, lạp xưởng tươi, phá lấu, nem, chả.

Miền Nam phổ biến nhất là bánh tét ăn kèm cà rốt, củ cải ngâm nước mắm.

Món tráng miệng: có các loại mứt trái cây như: mứt dừa, mứt me, mứt khoai, mứt ổi, mứt mảng cầu, mứt củ năng, bánh ít ngọt, kẹo thèo lèo và kẹo chuối…

Ngoài ra còn có món tráng miệng rất đặc sắc là cơm rượu.

Mâm cộ Tết miền Trung thì có các món nước như: gà tiềm hạt sen, canh hoa Kim Châm với tôm thịt, giò heo hầm.
Các món mặn như: tôm rim, thịt kho tàu, cuốn ram, thịt hon, gà rán, thịt phay, nem, chả, tré, thịt ngâm nước mắm… Rồi có thêm các món đồ mộc như: măng khô xào thịt, mít trộn, giá xào nham…

Món tráng miệng rất phong phú, có mứt cam quật, mứt sen, mứt gừng như miền Bắc, có mứt me, mứt dừa… như miền Nam. Ngoài ra có thêm mứt củ bình tinh, mứt củ khoai mài, mứt củ sen, mứt chanh, mứt khế. Bánh thì có bánh sen tán,bánh măng, bánh mận, bánh bó mứt, bánh thuẩn, bánh phục linh, bánh nổ, bánh tổ…

Ở miền Trung có cả bánh chưng và bánh tét ăn kèm dưa món.

Mâm cỗ miền Trung trong dân gian thì có cả bánh chưng và bánh tét. Nhưng mâm cỗ tiến cúng ở miếu điện trong cung đình thì chỉ dâng cúng bánh chưng chứ bánh tét thì không dùng làm vật phẩm để dâng cúng tổ tiên.

Khác với mâm sinh soạn để cúng tế trời đất, thần thánh, vua chúa... Như vào những dịp nhà vua tế Trời ở đàn Nam Giao hoặc tế các vị Tiên đế ở Thế miếu… Vật phẩm là bộ tam sinh (trâu, heo, dê) để nguyên con chưa qua chế biến,lễ vật này còn gọi là cỗ thái lao. Hoặc ngoài dân gian khi cúng Đất thì bộ tam sinh là miếng thịt heo, con cua, cái trứng chỉ luộc chín chứ không chế biến.

Còn mâm cơm để cúng ông bà trong 3 ngày Tết là mâm cỗ có nhiều món ăn được chế biến, gồm đủ các thành phần: Thượng cầm (các loại gia cầm biết bay) như chim, gà, vịt… Hạ thú (các gia súc trên mặt đất) như: heo, bò, gà... Rồi các loài thủy tộc dưới nước như: tôm, cua, cá… trong dân gian mâm cơm như vậy được gọi là hào soạn.

Trong cung đình mâm cỗ để tiến cúng ở miếu điện gọi là ngọc soạn, gồm các món ăn được chế biến từ các thành phần sơn hào hải vị quý hiếm trong cả nước, được chế biến công phu và trình bày kiểu cách tỉ mỉ.
Các món ăn như là: chim sâm cầm nhồi yến, hải sâm nấu độn, vi cá nấu rối, món nấu bong bóng cá đường, món nấu cửu khổng, gân nai, nem công, chả phượng…

Món tráng miệng có các loại mứt như mứt nhân sâm, mứt bát bửu làm từ các loại mứt quý và thịt heo quay. Mứt cam sành còn nguyên trái, mứt các loại củ quả như bí đao, đu đủ, gừng… gọt tỉa thành hình bát bửu hoặc các con vật trong tứ linh như long, lân, qui, phụng… rim khô.

Bánh ngọt thường là loại bánh khô, làm từ bột ngũ cốc đóng trong khuôn chữ nhật có in hình hoa mai, hoa đào, hoặc chữ phước, lộc, thọ… gói trong giấy ngũ sắc-như mang lời chúc tốt lành đầu năm.

Ngoài ra có loại bánh bắt hình các nhánh lộc, hoa mai, hoa đào, các loại trái cây như trái phật thủ, trái lựu,trái đào, nhân sâm… đem sấy khô được xếp thành hình tháp trên quả bồng sơn son thếp vàng, hoặc bằng sứ men lam để dâng cúng tổ tiên.

Bên cạnh những mâm hào soạn ở ngoài dân gian và ngọc soạn trong chốn cung đình, thì ở miền Trung vào những ngày đầu năm những gia đình theo Phật giáo có mâm cơm chay ngày mồng một gọi là mâm trai soạn để cúng tổ tiên.

Qua mâm cỗ ngày Tết của dân tộc, chúng ta thấy rằng món ăn Việt Nam rất đa dạng và phong phú. Từ các món dân giả như măng hầm, mít trộn… cho đến các món ăn cao cấp được chế biến bằng nguyên liệu trong nước. Có đủ sơn hào hải vị mà thế giới công nhận quý hiếm, bổ dưỡng như yến sào, bào ngư, vi cá… Đó là những món ăn Việt Nam có từ lâu đời, nhưng rất tiếc suốt một thời gian dài chúng ta xem đó như là một món ăn đặc biệt của người Trung Hoa.

Trong mâm cổ 3 miền truyền thống trước đây, thường không có món thịt bò. Sau này, khoảng đầu thế kỷ 20, khi ảnh hưởng phương Tây tràn vào, thì các món ăn được chế biến từ thịt bò mới được phổ biến. Và trong mâm cỗ Tết ngày nay, bên cạnh những món ăn truyền thống thì có thêm những món ăn mới bổ sung, tiếp thu cách thức chế biến của nhiều nước trên thế giới như món thịt nấu rượu chát, ca ri, ra gu…

Nhìn chung mâm cổ ngày Tết của 3 miền có một vài điểm khác biệt tùy theo địa phương. Nhưng đặc điểm căn bản mà miền nào cũng phải có trong mâm cổ là cơm và xôi, đặc biệt là bánh chưng, bánh tét ăn kèm với các loại dưa muối đặc trưng của từng miền – là loại bánh Tết của người Việt Nam, mặc dù hình thức và ý nghĩa khác nhau, như bánh chưng tượng trưng cho Đất là âm, bánh tét khi cắt lát ra từng khoanh tròn tượng trưng cho Trời là dương nhưng nguyên vật liệu gần như không có gì khác biệt. Đó là đặc điểm chung nhất phản ánh bản sắc văn hóa, lịch sử, địa lý… của một đất nước có nền văn minh lúa nước như chúng ta.

HỒ THỊ HOÀNG ANH


Nguồn: http://hannguyennguyennha.com/am-thuc/71-mam-co-tet-co-truyen

Monday, April 22, 2013

Tôi muốn bay cùng với đất sỏi mưa nguồn Quảng Nam

*Bài thu hoạch Đề án Bếp Việt - Đinh Khánh Trinh.

Tôi sinh ra và lớn lên ở vùng đất “chưa mưa đà thấm”. Quê tôi nghèo lắm, quanh năm chỉ làm bạn với đất sỏi và mưa nguồn. Cái nắng, cái gió miền Trung đã tôi những con người xứ Quảng nói riêng và miền Trung nói chung trở nên rắn rỏi, khỏe mạnh. Người xứ khác không rõ lại cho rằng người miền Trung (đặc biệt là người Quảng Nam) cộc cằn, thô lỗ. Người ta còn nháy lại giọng quê tôi “Thô chi mà thô đến cái giọng cũng thô”. Tuy nhiên, ít ai biết được bên trong cái vỏ bọc tưởng chừng thô lỗ, cộc cằn ấy là những trái tim đa cảm; đằng sau những lời lẽ có vẻ khô cứng ấy là những tình cảm chân thành và tha thiết. Không chỉ trong lời nói, ẩm thực Quảng Nam cũng như vậy. Những món ăn xứ Quảng không cầu kỳ như món xứ Bắc; cũng không đầy như món miền Nam; mà tao nhã, mặn mà.

Được tham gia vào Cổng thông tin ẩm thực Việt Nam, dưới sự hướng dẫn và gợi ý của Tiến sĩ Nguyễn Nhã cùng sự giúp đỡ của tất cả các thành viên trong dự án, đặc biệt là những kiến thức chuyên môn của Siêu đầu bếp Nguyễn Văn Lập. Tôi muốn giới thiệu đến độc giả gần xa những món thân thuộc, gắn liền với cái chân, cái bụng người Quảng Nam, nhưng chưa có cơ hội được đến với các bạn bốn phương như bánh tráng sắn cuốn cá, phở sắn, gỏi cá cải xanh, gà tre Đèo Le nướng hổi, cá chuồn kho mít non, mít hông, mè trộn măng, ngọn rau lang chấm mắm cái…

Bên cạnh đó, tôi sẽ đi sâu vào tìm hiểu mảng nguyên vật liệu chế biến. Ví dụ như, rau húng Trà Quế, mỳ Phú Chiêm, gạch cua Hội An, tro củi Cù Lao Chàm, bắp Hội An, gà tre Đèo Le, bê thui Cầu Mống,… Tôi không hiểu rõ lắm về ẩm thực các vùng miền khác, nhưng riêng với Quảng Nam thì ẩm thực có những nguyên tắc tối thượng mà chỉ cần sai một tí cũng có thể đánh mất giá trị và chất lượng của món ăn. Khâu quan trọng nhất trong chế biến món ăn đó chính là chọn nguyên vật liệu. Nếu ai đó có cơ hội về Quảng Nam và có hứng thú muốn kiểm chứng lời tôi thì cứ việc tìm đến thúng bắp ở các chợ và chọn mua hai trái bắp, một trái bắp Hội An và một trái bắp xứ khác (ví dụ như bắp Duy Xuyên, bắp Điện Bàn…). Bạn hãy tự thưởng thức và giác quan của bạn sẽ nói cho bạn biết rằng lời của tôi là đúng. Hay nếu bạn muốn ăn gà nướng mà được nếm một miếng gà tre Đèo Le nướng hổi và uống ly rượu gạo thì bạn sẽ thấy sướng run cả người. Chỉ cần ăn một lần cũng đủ khiến bạn da diết với vùng đất sỏi đá ấy nhường nào.

Tôi sẽ không nói nhiều về nguyên vật liệu ở đây. Nếu có cơ hội tìm hiểu sâu và rõ về vẫn đề này, tôi muốn viết nhiều và viết rõ để chúng ta có thêm cơ sở để tự hào về ẩm thực từng vùng miền của chúng ta, khi bắt tay vào chế biến, các bạn có thể chọn lựa đúng nguyên vật liệu để món ăn trở thành món quà yêu thương dành cho người thưởng thức.

Tôi không có ý định dừng lại ở việc khai thác đề tài ẩm thực Quảng Nam, tôi muốn mở rộng phạm vi đề tài ra ẩm thực Trung Trung Bộ, Nam Trung Bộ và quá trình Nam tiến của ẩm thực Quảng Nam nói riêng và ẩm thực miền Trung nói chung. Tuy nhiên, để làm được điều đó, tôi cần tự tìm hiểu, nghiên cứu và sự giúp đỡ của bè bạn gần xa – những người biết và có niềm đam mê với ẩm thực. Như vậy, chúng ta mới có thể xây dựng và quảng bá ẩm thực cũng như củng cố nền văn hóa ẩm thực nước nhà, vừa ngon, vừa lành.

Để thực hiện được đề án này, trước tiên, tôi sẽ tìm hiểu, nghiên cứu và giới thiệu về những món ăn của quê tôi, đặc biệt là những món ngon chưa được phổ biến và những món có nguy cơ bị mai mọt. Song song, tôi sẽ chú ý đào sâu về nguyên vật liệu để tìm ra đặc trưng (bí quyết) của thô phẩm để tạo nên món ăn ngon. Ví dụ như tại sao chỉ có gà tre Đèo Le nướng mới ngon và khiến thực khách mê mẩn như vậy. Khi khai phá được vấn đề này, ta có thể khắc phục được tình trạng cung không đủ cầu dẫn đến tình trạng làm giả nguyên vật liệu như hiện nay (ví dụ như thực tế vì không đủ lượng gà tre Đèo Le để chế biến, nhiều quán để mua gà Tam Hoàng nhỏ hoặc gà kiến về bôi mỡ nghệ cho da vàng…). Tiếp sau đó, tôi sẽ mở rộng phạm vi nghiên cứu vào phía Nam.

Trong quá trình thực hiện dự án, tôi sẽ tham khảo thêm ý kiến của các chuyên gia ẩm thực và chuyên gia dinh dưỡng để hiểu rõ hơn về giá trị dinh dưỡng và cách kết hợp các nguyên liệu sao cho ngon, lành và đẹp.

Tôi sẽ thực hiện những ý định trên thông qua việc viết bài quảng bá, nếu có cơ hội, tôi muốn được giới thiệu trong các hội thảo hay các chương trình ẩm thực. Bên cạnh đó, tôi có thể được sự giúp đỡ, cộng tác và tổ chức những buổi nói chuyện theo chuyên đề về ẩm thực. Trong buổi nói chuyện, chúng ta có thể tổ chức các trò chơi hay các cuộc thi liên quan đến ẩm thực để gây sự hứng thú và quan tâm của mọi người. Tôi cũng tham gia dịch những bài viết của tôi hay những bài hay khác sang Tiếng Anh để quảng bá ẩm thực Việt ra thế giới.

Mọi sự góp ý xin gửi về địa chỉ:
Đinh Khánh Trinh
Đề tài: Ẩm thực Quảng Nam
Điện thoại: 0122 44 188 50
Hộp thư: trinhkhanh.dinh@gmail.com

Friday, April 12, 2013

Một người quyết gắn bó với món chè Việt, nghiên cứu quảng bá món chè Việt ra thế giới


* Bài thu hoạch Đề án Bếp Việt - Lê Thị Hương Quê.

Trong không khí vô cùng ấm cúng, 4 giờ chiều, ngày 07 tháng 04 năm 2013, tại tư gia của Tiến sĩ Nguyễn Nhã, tôi đã có cơ hội giao lưu, gặp gỡ với Tiến sĩ Nguyễn Nhã – người rất tâm huyết với ẩm thực Việt, anh Nguyễn Văn Lập – Siêu đầu bếp năm 2013, cùng các bạn nhóm nòng cốt trong Đề án Bếp Việt cho thế giới.

Tiến sĩ Nguyễn Nhã – sau đây tôi xin gọi “thầy Nhã”, đã chia sẻ những nét đặc sắc về nền ẩm thực Việt Nam, xưa và nay, rồi những trăn trở của thầy đối với Đề án Bếp Việt lần này. Thầy cho chúng tôi xem những quyển sách do chính thầy dốc hết tâm huyết biên soạn như: Độc đáo ẩm thực Thăng Long-Hà Nội, Độc đáo ẩm thực Huế, Bản sắc ẩm thực Việt Nam cùng các tài liệu liên quan.

Những lời chia sẻ thân tình của thầy từ phong cách ẩm thực Bắc-Trung-Nam cho đến những giá trị cụ thể qua từng ví dụ sinh động. Nhất là phải kể đến “mắm Việt”. Thầy đặc biệt nhấn mạnh rằng trong mâm cơm của người Việt gần như không thể thiếu chén mắm và nó không hề lẫn với các loại nước chấm khác như nước tương của Tàu hay những loại nước chấm du nhập từ phương Tây. Dù hằng ngày trong mâm cơm của tôi vẫn không thể thiếu chén mắm chanh tỏi ớt nhưng từ khi gặp thầy tôi bắt đầu có cái nhìn rõ hơn về nó: mắm không chỉ là món chấm bình thường mà còn là một giá trị truyền thống của ẩm thực gia đình.

Cũng trong chiều hôm ấy, anh Nguyễn Văn Lập – Siêu đầu bếp năm 2013, đã biểu diễn nghệ thuật cắt tỉa củ quả. Chỉ trong nháy mắt anh đã tỉa xong một bông hồng rất tinh tế và sống động từ củ cà rốt. Mọi người ai cũng tấm tắt khen. Tiếp theo anh “chạm trổ” quả bí ngô thành một đầu người, cứ phải gọi là “y như thật”. Rất khéo léo, anh vừa trò chuyện rôm rả, vừa khắc nên hình hài một con người. Qua đó tôi nhận ra rằng mỗi một món ăn là một nghệ thuật và đặc biệt nghệ thuật trang trí đóng vai trò quan trọng để tạo cái “chất” của món ăn.

Bên cạnh đó, mỗi thành viên trong đội nòng cốt của Đề án Bếp Việt cũng có dịp để lần lượt nêu lên suy nghĩ của mình về ẩm thực Việt Nam cũng như đề ra mục tiêu đồng hành với Bếp Việt. Để gìn giữ các giá trị truyền thống của ẩm thực Việt, để đưa ẩm thực Việt đến gần với thế giới hơn nữa thì đó quả là một chặn đường dài. Song, tất cả mọi người trong đề án đều đồng tâm nhất trí theo đuổi tới cùng.

Tôi cũng xin góp chút sức mọn của mình vào đề án vô cùng ý nghĩa này. Với tham vọng vừa quảng bá hình ảnh quê mình, vừa cóp nhặt kiến thức về ẩm thực Việt Nam để vươn ra thế giới tôi đã chọn cho mình một lối đi, đó là chè. Chè có nhiều loại và nhiều chức năng. Từ Bắc vô Nam bạn có thể kể bao nhiêu tên chè? Vô số phải không nào ? Đó là chưa kể cùng một tên gọi nhưng chỉ cần gia giảm các nguyên liệu ta đã có một hương vị hoàn toàn khác. Thật thú vị phải không nào? Lại thêm thức ăn (cũng có thể là thức uống) đặc biệt này có rất nhiều công dụng. Chè có thể làm món tráng miệng hay khai vị cũng giống như các nước phương Tây ăn súp trước bữa chính vậy. Hay chè còn có thể ăn dặm. Nghĩa là ăn chè giữa buổi, có thể là buổi sáng hoặc buổi trưa, để vừa không bị đói vừa không bỏ lỡ bữa chính vì ăn quá no. Hay chè làm món điển tâm giúp ta yên lòng mà tận hưởng giấc ngủ ngon lành. Cũng có những món chè có từ rất lâu rồi, cũng có những món mới sáng chế gần đây và cũng có những món đã thất truyền. Chẳng phải đấy cũng là một đề tài đáng được lưu tâm khi nhắc đến ẩm thực Việt sao?

Tôi thấy mình thật may mắn vì đã không bỏ lỡ buổi gặp mặt đầu tiên của Đề án Bếp Việt cho thế giới. Chặng đường phía trước còn dài nhưng tôi không đơn độc. Để đưa những giá trị Việt vươn ra thế giới thì đây, ngay từ bây giờ ai cũng có thể làm được. Tôi đã chọn khởi đầu con đường quảng bá hình ảnh Việt, một con đường đồng hành với Đề án Bếp Việt.

Mong một tương lai không xa sẽ trả lời một cách cụ thể.

Lê Thị Hương Quê
Đề tài: Chè Việt
Di động: 01636926295
Hộp thư: quehuong.huongque@gmail.com


Bảng mục tiêu những việc đã, đang và sẽ thực hiện

STT
Mục tiêu ngắn hạn
Mục tiêu dài hạn
Ghi chú
1
Cùng bạn bè quảng bá các sách và tài liệu của Thầy Nhã. (qua mạng, truyền mệng, đi đến những nơi cần thiết,…)
Viết các bài báo có liên quan
Hiển nhiên, để đạt được mục tiêu đề ra tôi phải có sự giúp đỡ rất lớn từ phía gia đình, bạn bè và thầy cô.
2
Tham gia các buổi giao lưu gặp gỡ tại cơ sở của Bếp Việt.
Tìm hiểu tài liệu về ẩm thực Việt xưa và nay, đặc biệt là món chè. (qua sách báo, Internet, người thân, bạn bè,…)

3
Chọn cho mình một món chè tâm đắc nhất, chuẩn bị cho “màn trình diễn” sắp tới.
Dịch các bài báo, các sách viết về ẩm thực (đặc biệt là của thầy Nhã) sang tiếng Anh và tăng cường quảng bá Bếp Việt.

Wednesday, April 10, 2013

Cảm xúc của người quyết theo con đường nghiên cứu và quảng bá ẩm thực Bắc Bộ


* Bài thu hoạch Đề án Bếp Việt - Trần Thị Thiềm.

Niềm đam mê ẩm thực đã nhen nhóm trong tôi ngay từ khi tôi còn nhỏ. Mỗi khi có dịp tôi luôn tự tay nấu cho những người mình yêu thương nhất những món ăn ngon. Niềm vui hạnh phúc nhất của người đầu bếp là khi mọi người thưởng thức được món ăn do mình nấu và cảm nhận được tình yêu thương trong đó. Giây phút cả nhà quây quần bên mâm cơm thật là ấm cúng và hạnh phúc biết chừng nào. Mẹ tôi thường bảo những món ăn ngon sẽ khiến các thành viên trong gia đình cho dù có đi xa tới đâu thì vẫn nhớ tới gia đình mà quay trở về.

Có thể nói ẩm thực là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của tôi. Tôi thích ngồi xem bà, mẹ nấu những bữa cơm cho gia đình để rồi khi lớn tôi bắt đầu tự nấu và còn sáng chế ra ra nhiều món ăn nữa. Khi rảnh tôi cũng hay xem những chương trình dạy nấu ăn trên ti vi hay trên mạng internet do cô Diệu Thảo hay cô Nguyễn Dzoãn Cẩm Vân dạy nữa. Chỉ xem qua một lần rồi tôi mày mò nấu thử cho cả nhà ăn. Bởi vậy chẳng quá ngạc nhiên, khi Tiến sĩ Nguyễn Nhã hỏi bạn nào thích ẩm thực thì đăng kí vào dự án Bếp Việt, ngay lập tức tôi đã giơ tay. Trong buổi hội thảo của bộ môn Biên Phiên Dịch, tôi đã thực sự bị thu hút bởi cách nói chuyện tâm tình với sinh viên của thầy Nhã. Thầy đã chia sẻ rất nhiều về kinh nghiệm và những thành công mà thầy đã đạt được. Ngoài ra những thành quả mà thầy có được khi mới ở độ tuổi 26 cũng khiến tôi vô cùng xúc động.

Là một sinh viên năm cuối sắp rời khỏi ghế nhà trường, cũng có lúc tôi hoang mang lo sợ rằng không biết sau này mình sẽ làm được những gì. Tôi thầm ước giá mà mình cũng được như thầy cho dù chỉ một phần nhỏ bé thôi cũng được. Nhưng tôi sẽ chẳng làm được gì nếu như tôi không chịu hành động. Thực sư tôi rất háo hức với dự án này và hi vọng rằng mình có thể đóng góp chút gì đó đối với nền ẩm thực Việt Nam. Hôm nay, là buổi họp đầu tiên của nhóm nòng cốt dự án. Tôi đã rất háo hức mong chờ được gặp thầy và mọi người trong nhóm. Tôi và nhỏ bạn trong nhóm đã hẹn nhau tìm đường tới nhà thầy. Đoạn đường tuy không dài nhưng mà số nhà thì thật là khó kiếm. Số nhà cũ rồi số nhà mới khiến chúng tôi bấn loạn. Loay hoay gần một tiếng đồng hồ hỏi tới hỏi lui chúng tôi cũng tìm được đến nhà thầy.

Khung cảnh trước nhà thầy kéo tôi quay trở về những ngày còn thơ bé. Tôi và các bạn thường hay tụ tập chơi những trò trẻ con dưới bóng râm của giàn hoa giấy. Khi thầy mở cửa mời chúng tôi vô nhà, tôi thực sự bị choáng ngợp bởi khối lượng sách, tài liệu, tranh ảnh trong nhà thầy. Chúng được sắp xếp rất gọn gang, ngăn nắp và sạch sẽ. Thầy trân trọng giữ gìn sách giống như những tài sản vô giá vậy. Cách bài trí đồ đạc trong nhà thầy rất khoa học. Không gian ấm cúng nhưng không kém phần sang trọng, cổ kính mà hiện đại bởi cách phân chia các gian phòng hợp lý, phòng khách, phòng làm việc, phòng ăn, nhà bếp.

Thầy tiếp đón chúng tôi bằng nụ cười hiền hậu, tận tình giảng giải như một người thầy, một người cha. Luôn nở nụ cười trên môi, khiến cho khoảng cách giữa thầy và trò dường như tan biến. Chúng tôi có buổi nói chuyện rất thân mật với thầy. Thầy đưa ra những gợi ý và hướng chúng tôi theo những mảng đề tài mà chúng tôi yêu thích.

Chúng tôi cùng nhau chia sẻ cơ duyên đến với dự án và những dự định sắp tới. Có cơ hội được nói chuyện, tiếp xúc với những người nổi tiếng như thầy, anh Lập thật đúng là may mắn của bất cứ ai trong nhóm nòng cốt. Mọi người ai cũng thân thiện và gần gũi giống như những thành viên trong một gia đình.

Anh Lập, một đầu bếp nổi tiếng và cũng là siêu đầu bếp 2013. Anh cũng rất tâm huyết với dự án Bếp Việt. Với mong muốn khôi phục và gìn giữ tinh hoa ẩm thực Việt, anh đã hết lòng chia sẻ những thành công, đam mê, kinh nghiệm của mình với chúng tôi. Anh còn hứa sẽ hết lòng giúp đỡ chúng tôi khi cần. Tôi không thể nào quên được màn biểu diễn ấn tượng tỉa trái cây của anh. Từ một củ cà rốt vô tri anh có thể biến nó thành một bông hồng rất ý nghĩa, từ một trái bí ngô anh có thể tạc hình khuôn mặt của một ông cụ với vẻ trầm tư. Thật đáng nể phục! Bàn tay anh điêu luyện trong từng bước ngồi tỉ mẩn gọt, tỉa. Nhìn thì tưởng chừng đơn giản nhưng anh cho biết để có thể đưa dao như vậy anh đã phải luyện tập trong 8 năm ròng.

Người tiếp theo tôi muốn nhắc tới đó là anh Nemo Phan, một dịch giả trẻ. Anh cũng là một đàn anh rất đáng kính của chúng tôi. Anh chăm chú lắng nghe thầy giảng giải, rồi giải đáp thắc mắc của chúng tôi. Bận rộn rót nước cho mọi người, lo ghi hình, chụp ảnh. Anh thật là chu đáo. Cũng không thể không nhắc tới phía gia đình thầy, những con người vô cùng đáng mến.

Đó là vợ thầy, mặc dù tay đau nhưng vẫn lo lắng, hỏi han chúng tôi. Lo dọn đồ ăn cho chúng tôi, kể cho chúng tôi nghe thành quả mà cô đã đạt được. Cô đã cho chúng tôi xem những bông hồng trắng cô tỉa từ đu đủ. Ôi nó mới giống thật làm sao!

Nếu cô không nói thì chắc chẳng ai biết đó là hoa làm từ trái cây cả. Cô còn chia sẻ cách phân chia nguyên liệu như thế nào để làm được món chả giò.

Món chả giò ăn kèm với bún và rau sống cùng với nước mắm có pha ớt chanh tỏi rất vừa ăn. Anh Quốc, cháu thầy cũng là một đầu bếp. Anh đã trổ tài và còn hướng dẫn chúng tôi làm món chả đẫy, một món ăn gia truyền của gia đình. Nhìn anh làm có vẻ đơn giản, nhưng khi làm mới biết khó như thế nào. Nó đòi hỏi phải có sự khéo léo, nhanh nhậy của đôi bàn tay. Lửa vừa đủ, lượng dầu vừa đủ thì món này mới có thể thành công được. Anh rất hiền lành và tử tế với chúng tôi. Thưởng thức những món ăn truyền thống trong một không gian ấm cúng, ai nấy trong số chúng tôi đều cảm thấy rất vui.

Mọi người cùng trò chuyện rôm rả về đề tài ẩm thực. Nhất định khi nào trở về nhà tôi sẽ làm cho cả nhà thưởng thức món chả đẫy. Một món ăn đậm đà, cùng với món nước mắm chấm kèm, một món mà không thể nào thiếu được trong mỗi bữa ăn của gia đình Việt. Lần này tôi đã học thêm được một món ăn mới, và nhiều bài học bổ ích từ thầy cô, các anh và các bạn.

Khi ra về thầy còn chu đáo tặng chúng tôi sách ẩm thực Huế, Hà Nội, Bản sắc ẩm thực Việt Nam do chính thầy chủ biên và thầy cũng cho mượn thêm các tài liệu để chúng tôi có điều kiện tốt nhất để viết bài.

Trong lòng tôi tràn ngập niềm vui sướng, bởi nhờ có thầy tôi lại được sống với chính niềm đam mê ẩm thực của mình. Nhờ có thầy và mọi người tôi mới có thể nhìn lại và định hướng cho con đường phía trước mà tôi sắp đi.

Mỗi người chúng tôi tuy đến từ những vùng miền khác nhau, làm những công việc chẳng giống nhau, nhưng ở chúng tôi có thể tìm thấy một tiếng nói chung: đó chính là niềm đam mê ẩm thực Việt. Chúng tôi sẽ quyết tâm đóng góp sức mình vào việc quảng bá ẩm thực Việt Nam ra thế giới. Ẩm thực Việt Nam vô cùng đa dạng. Chúng ta hãy cùng nhau gìn giữ và khôi phục những nét tinh hoa của ẩm thực Việt.

Đề tài mà tôi sẽ theo đuổi là Ẩm thực Bắc Bộ - quê hương của tôi. Nếu bạn cũng có chung niềm đam mê về ẩm thực và đặc biệt là ẩm thực Bắc Bộ thì đừng ngại ngần chia sẻ với đề án Bếp Việt hoặc với tôi nhé.

Trần Thị Thiềm

Đề tài: Ẩm thực Bắc Bộ

Di động: 0989886401

Email: bluebelltran2705@gmail.com

Tuesday, March 12, 2013

Một bài báo đáng cho người Việt suy nghĩ

11:53:46 AM 21/02/2013

Sau 10 ngày du lịch ở Việt Nam, ông Joel Brinkley, vốn từng là phóng viên tờ New York Times và từng đoạt giải Pulitzer (giải thưởng báo chí danh giá nhất tại Mỹ), hiện đang là người dạy chuyên ngành báo chí tại đại học Stanford đã viết bài tựa “Despite increasing prosperity, Vietnam's appetites remain unique" (tạm dịch: Dù ngày một khấm khá, khẩu vị ở Việt Nam vẫn độc nhất vô nhị) trên tờ báo lớn Chicago Tribune ngày 29.1-2013.

TỪ PHẢN ỨNG NHỮNG NHẬN THỨC SAI CỦA ÔNG JOEL BRINKLEY

Sự phẫn nộ của dư luận chắc sẽ không đến thế nếu ông Joel Brinkley không phải là người đoạt giải báo chí danh tiếng, đang dạy học tại một đại học danh tiếng viết cho tờ báo danh tiếng.

Tìm hiểu lịch sử văn hóa của một dân tộc, bản sắc của một dân tộc cực kỳ khó khăn có khi để cả đời chưa chắc đã hiểu thấu đáo, vậy mà chỉ 10 ngày du lịch, ông Brinkley đã mở đầu bài viết khoảng 900 từ như sau:
     
“Ở Việt Nam, bạn dễ dàng nhận thấy những điều bất thường. Bạn không nghe tiếng chim hót, không thấy sóc leo cây hay chuột lục lọi trong những đống rác. Thậm chí, cũng chẳng có con chó nào chạy rông. “Thực tế, hầu như bạn không thấy được một con thú hoang hay thú nuôi nào cả. Chúng đi đâu cả rồi? Bạn có thể ngạc nhiên khi biết rằng: chúng đều bị ăn thịt cả”.

Cái sai không chỉ ở chỗ vội kết luận không thấy thú hoang, thú nuôi nào cả  ở những nơi ông đi qua 10 ngày hay cũng đã 4, 5 lần hay hơn nữa, chắc chắn cũng không thể đi nhiều nơi và chắc chắn cũng chỉ ở thành phố là chủ yếu mà còn sai ở chỗ vội suy diễn do bị ăn thịt, nhất là ông thấy vài hiện tượng như ông kể sau đó ông thấy những xe vận tải chở đầy chó đi bán hay có thể ông thấy cửa hàng bán thịt chó, treo những con chó bị làm thịt .

Cái sai là nhận thức mang tính sự phân biệt văn hóa, sự phân biệt chủng tộc. Mỗi dân tộc có nền văn hóa lịch sử riêng, khác biệt nhau, không thể dân kiêng thịt bò phê phán dân thích ăn thịt bò hay dân kiêng thịt heo phê phán dân thích thịt heo. Cũng vậy dân nào thích ăn thịt chó, thịt chuột... phải tìm hiểu loại chó, chuột nào, tại sao dân ấy lại thích...

Cái sai nghiêm trọng nhất của ông khi ông so sánh với các dân tộc Đông Nam Á suy diễn một cách võ đoán rằng người Việt, dân tộc Việt hiếu chiến với “17 cuộc chiến tranh với Trung Quốc kể từ khi giành được độc lập hơn 1.000 năm trước và đã xâm chiếm Cambodia vô số lần và gần đây nhất là vào năm 1979 vừa qua” vì thích ăn thịt chó, thịt chuột hay thịt chim, thịt mèo…!

Dư luận đã có nhiều người chỉ trích bài báo đã nói quá việc ăn thịt động vật tại Việt Nam, "thiếu thông tin và đầy cảm tính" hay ông Brinkley quá "hồ đồ, trịch thượng và phân biệt chủng tộc". Không chỉ người Việt Nam phản ứng trước bài viết “đụng chạm” đất nước mà ngay cả nhiều người nước ngoài sinh sống tại Việt Nam hay tại Mỹ hoặc ở các nước khác cũng lên tiếng phản đối kịch liệt. Graeme Nye (Tp.HCM) cho biết: “Tôi là một người Anh đang sống ở Việt Nam. Tôi từng là nhà nghiên cứu ở Hạ nghị viện và Quốc hội Canada. Quan điểm của Joel Brinkley thật thiển cận và ít sự nghiên cứu”.

Bà McElwee kết luận “Quy chụp cả đất nước Việt Nam “có khuynh hướng hung hăng” dựa trên những nhận xét sai lầm (các nước khác ở Đông Nam Á không gặp vấn đề nào về động vật hoang dã), những câu chuyện nghe kể lại (chó thỉnh thoảng bị ăn cắp bán cho quán ăn), tin vào những hiện tượng tâm lý tầm phào (ăn thịt làm người ta hung hăng hơn). Làm báo như vậy thì yếu về nghiệp vụ quá”. Trong bài viết trên blog cá nhân của mình, độc giả Michael nói trên khẳng định: “Đây là bài viết về Việt Nam tệ nhất mà tôi từng đọc. Lệch lạc và đầy xúc xiểm. Thật bất mãn khi một nhà báo danh tiếng lại đứng tên một bài viết như thế; nhưng có lẽ còn tệ hơn nữa là một ấn phẩm cũng lớn không kém lại cho đăng bài viết đó”. Cũng theo nguồn tin của báo Thanh Niên, một số sinh viên Việt Nam tại Đại học Stanford (nơi ông  Joel Brinkley giảng dạy) đang có kế hoạch thảo một bức thư phản hồi về bài viết gửi đến ông Joel Brinkley cũng như thu thập các chữ ký phản ứng với bài báo này.

Tiến sĩ Naomi Doak, điều phối viên Chương trình sông Mê kông mở rộng – Đông Nam Á thuộc Tổ chức Bảo tồn quốc tế TRAFFIC, nói với Thanh Niên: “Tôi không đồng ý với rất nhiều lập luận của Ông Brinkley về chim và chó tại Việt Nam. Chúng vẫn còn rất nhiều tại đây, chỉ có điều là chim ở trong lồng còn chó thì trở thành thú nuôi. Tôi không tin Ông Brinkley đã nghiên cứu kỹ các nước khác trong khu vực và dành nhiều thời gian tại đó. Nếu đủ kiến thức, ông Brinkley sẽ không cho rằng chỉ mình người Việt Nam ăn thịt chuột và thịt chó luôn là món khoái khẩu tại đây”.

Tuy nhiên, trao đổi với Báo Thanh Niên, ông Brinkley vẫn khẳng định: “Tôi bảo lưu quan điểm về những gì mình viết ra. Tôi đã dành rất nhiều thời gian để nghiên cứu về các nước trong khu vực. Chính những ai phê phán và lên án bài viết của tôi mới là quá khích”. Dù sau đó với áp lực của hàng ngàn người ký tên đòi đại học Stanford sa thải ông, khi trao đổi với Báo Tuổi Trẻ, ông đã nói lời xin lỗi về bài viết sai sót về Việt Nam rằng ông đã 4, 5 lần đến Việt Nam, đã biết rõ những gì ông tận mắt chứng kiến và đã trò chuyện với nhiều người và cũng có nhiều người viết như thế.
       
Như thế, người Việt như tôi chắc cần phải suy nghĩ, tại sao vẫn có người như ông Brinkley vẫn không cho mình đã sai lầm mà vẫn cố bảo lưu quan điểm của mình hay đã đành chấp nhận xin lỗi, sai lầm khi bị áp lực quá mạnh khi mình xúc xiểm đến tự ái của cả một dân tộc. Thật sự ông đã chứng kiến những gì và được nghe nói những gì? Có phải chính người Việt Nam như tôi đã có lỗi không làm gì để thuyết phục được ông hay đã có nhiều hiện tượng và có nhiều người nói với ông khiến ông hiểu không đúng? Hay thật sự đã có những hiện tượng xấu nào đó chưa thể hiện được một xã văn minh? Hay ông Brinkley cố tình nghĩ sai để mọi người quan tâm để thực hiện một ý đồ nào đó?
       
Dù gì đi nữa có những hiện tượng mà ông Brinkley nêu ra không phải không có ở những nơi ông ấy đi qua. Chẳng hạn đúng có một số người Việt nhất là ở Miền Bắc thích ăn thịt chó hay thích món giả cầy, giả thịt chó và một số người Việt nhất là ở Miền Tây Nam Bộ thích ăn thịt chuột, nhưng phải là chuột đồng ở ngoài ruộng lúa ăn lúa gạo. Song chắc chắn không phải người Việt nào cũng thích như thế. Cụ thể trong họ hàng nội ngoại của tôi tới hàng trăm người hiện chẳng ai có từng ăn chứ đừng nói thích ăn thịt chuột và may ra trong trăm người đó thì chỉ vài người từng ăn thịt chó. Và nếu  nói rộng ra hàng vạn người tôi quen biết thì may ra cũng chỉ vài người từng ăn thịt chó hay thịt chuột đồng; có người lại còn sợ ăn thịt chó hay thịt chuột đằng khác nữa.
         
Chắc phải có một cuộc điều tra nghiêm túc xem bao nhiêu người Việt còn thích ăn thịt chó, thịt chuột và những chim hoang dã. Cũng cần phải dẹp bỏ cách trưng bày man rợ như chọc tiết thú vật hay giết chó, thú rừng đang nhan nhản nhiều nơi mà khách du lịch đi qua…

CẦN NGHIÊN CỨU SÂU MỚI CÓ KẾT LUẬN CHÍNH XÁC VỀ VĂN HÓA ẨM THỰC VIỆT, CON NGƯỜI VIỆT        

Có điều nếu nghiên cứu sâu  lịch sử văn hóa Việt Nam hay hỏi những ai nghiên cứu về ẩm thực Việt Nam, ông  Brinkley sẽ vô cùng ngạc nhiên khi biết bữa cơm gia đình Việt Nam từ xưa đến nay ở miền quê (chiếm từ 80% trở lên dân số cả nước) chủ yếu là cơm rau cá hay dưa cà mắm là cơ bản. Người Việt hầu hết chỉ ăn thịt nhiều vào dịp tết hay giỗ mà thôi.
         
Nhiều người Việt khi mời khách đến nhà ăn cơm thường nói: xin mời đến ăn cơm rau, tức bữa cơm gia đình bình thường chứ không dám bày vẽ gì cả để khách không ái ngại mà nhận lời mời.
         
Trước và sau ngày Cách Mạng tháng Tám năm 1945, tôi còn nhớ rất rõ họ hàng bố tôi nhất là họ mẹ tôi rất lớn vốn là chắt của Hộ bộ thương thư Phạm Thận Duật từ thời Vua Tự Đức đến thời vua Hàm Nghi triều Nguyễn mà trong bữa cơm gia đình hàng ngày cũng ít ăn thịt, còn các lực điền, thợ gặt, thợ cấy của gia đình mỗi bữa cơm sáng hay trưa chủ yếu vẫn là ăn rât nhiều cơm với mắm, cà muối và rau, gần như không có thịt. Quê tôi ở Yên Mô (Ninh Bình) cũng như rât nhiều quê khác khắp miền đất nước có rất nhiều loại chim hoang dã như cò trắng bay từng đàn nay vẫn còn; ở Miền Nam có nơi có cả vườn cò có hàng ngàn con cò ở khắp nơi bay về đậu, người Việt không bao giờ ăn thịt loại chim hoang này.
         
Còn có những chim hoang như quạ, chèo bẻo, sáo sậu… cũng không bao giờ người Việt ăn thịt song bây giờ còn rất hiếm, thì ra những loại chim này thường ăn sâu bọ ở các bụi rậm, cánh đồng mà nay còn rất ít bụi rậm hay đất hoang và các nông dân dùng quá nhiều thuốc trừ sâu, nên làm gì còn sâu bọ cho thức ăn của các loại chim hoang đó làm sao tồn tại nhiều được. Những nông dân lực điền  trên cũng như các anh em họ hàng  nhà tôi không ăn thịt nhiều kể cả không ăn thịt chó, chim, thú hoang mà sao họ tham gia binh lính hai bên tích cực chiến đấu trong cuộc chiến kể cả thời kháng chiến chống Pháp và sau này.
         
Trong thời gian tôi viết bài này, thì nhà văn Từ Quốc Hoài, gốc người Bình Định tập kết ra Bắc năm 1954, người cùng tổ dân phố đến nhà tôi chúc Tết, kể chuyện hồi chiến tranh trong rừng, gạo mang theo không bao nhiêu, mỗi bữa chỉ có vài muỗng cháo, gặp bất cứ con nào là bắt lấy mà ăn. Có một đêm đốt củi rừng sưởi ấm có con dế cơm bay vào, bắt được đem nướng,  có 7 nhà văn chia nhau ăn mà cảm thấy khỏe hơn khi chưa ăn một phần con dế cơm ấy. Rừng trong chiến tranh mà ông  Brinkley nhắc tới không những đã bị bom đạn tàn phá, con người kiếm sống khỏi chết đói và bây giờ lại có nạn phá rừng thì chim thú hoang dã làm sao mà còn nhiều được.
         
Cũng khi đang tiếp chuyện nhà văn Từ Quốc Hoài, tôi lại nghe tiếng con sóc kêu đang leo nhảy từ cây mận (roi) xuống bờ tường nhà tôi ở quận Phú Nhuận, TP. Hồ Chí Minh và lại nghe cả tiếng chim kêu trên cành cây mận kể trên. Chẳng là nhà tôi có cây mận cao cũng như gần chùa thường có những buổi phóng sinh chim, nên thường thấy con sóc chạy nhảy hay chim hoang hót, chứ những nhà khác chưa chắc đã thấy hiện tượng trên mà có thể những người khách nước ngoài như Ông Brinkley lại viết rằng chẳng thấy chim hót, sóc chạy nhảy đâu cả và sẽ suy diễn bị con người ăn thịt hết rồi.

Trước khi người Pháp đến chiếm đóng và cai trị Việt Nam, trâu bò bị nhà nước cấm giết nếu không có lý do chính đáng như trâu  bỏ già yếu hay cần cúng tế tam sinh, vì trâu bò là sức kéo, canh tác của một nước nông nghiệp. Năm 1885 ở Hà Nội rồi tới Hải Phòng bắt đầu của cả miền Bắc  mới có cửa hàng bán thịt bò dành cho người Pháp.

Sau này các thành thị mới có lò mổ động vật và chợ mới bán thịt bò. Cũng chưa có trang trại nuôi bò như ngày nay và cả gà công nghiệp cũng thế mới phát triển gần đây. Vậy thì với ảnh hưởng của văn hóa Phương Tây, nhất là những người sống trong các thành thị mới ăn thịt nhiều trong đó có thịt bò, bởi người ở xứ lạnh rất cần ăn thịt, có người Mỹ tôi đã chứng kiến ăn thịt bò tới 1 ki lô chứ không như người Việt ăn vài trăm gram là nhiều. Cũng nên biết phần lớn các món ăn Việt như phở, chả giò, gỏi cuốn… thường rất nhiều chất, nhiều vị, thịt chỉ qua loa còn phần lớn rất nhiều rau hoặc luôn ăn kèm với rau sống .
         
Như tôi đã đúc kết khi nghiên cứu về ẩm thực Việt Nam rằng ẩm thực Việt Nam lấy tự nhiên làm gốc vừa ngon vừa lành; rau củ quả cá là chính, rất ít mỡ, ít thịt; cách chế biến chủ yếu là luộc, nấu, nướng, kho, tươi sống là chính, chiên xào, quay rất ít; cách ăn các món ăn luôn cân bằng âm dương, thêm bớt tùy theo cơ thể mỗi người, thường ăn kèm với rau thơm rau sống, gia vị tự nhiên vốn là món ăn bài thuốc, rất lợi cho sức khỏe.
           
Ẩm thực Việt Nam khác hẳn với ẩm thực Trung Quốc hay Phương Tây, dùng nước mắm để nêm hay chấm các món ăn và riêng nước chấm thì vô cùng phong phú, riêng ẩm thực Huế có hàng chục thứ nước chấm và cả muối cũng hàng chục các thứ muối để chấm và chỉ ăn cơm với muối ấy cũng rất ngon và đủ chất bổ dưỡng. Các món ăn không những ngon lành, lấy tự nhiên làm gốc mà lại thường mang nhiều ý nghĩa và quan trọng đến nỗi được vua cha chọn truyền ngôi như truyền thuyết Hùng Vương sau được các sử gia ghi trong sách sử câu chuyện bánh chưng bánh dầy, hoàng tử Lang Liêu làm, dâng lên vua cha vừa ngon vừa lành,bổ dưỡng và giữ chất tự nhiên của gạo nếp, mùi thơm, màu xanh tự nhiên của lá dong, lại mang ý nghĩa công ơn cha mẹ như trời (tròn, bánh dầy), đất (vuông,bánh chưng) thể hiện nền văn hóa Việt, lúa nước khác hẳn văn hóa Hán, lúa mì...
           
Cứ nghiên cứu các chất bài thuốc của củ riềng hay lá mơ tam thể trị các bệnh kiết lỵ thì mới thấy người Việt tinh khôn ra sao. Đó là chưa kể người Việt thường nói: Nắng gỏi (gỏi cá với hàng chục thứ rau bài thuốc), mưa cầy, chó).
           
Chữ ăn trong tiếng Việt lại là mở đầu hàng trăm từ chỉ những sinh hoạt của người Việt, không phải là ăn như ăn hối lộ, ăn nằm, ăn chơi, ăn gian... Ngôn ngữ Việt lại rất phong phú tiếp nhận cả tiếng Hán, tiếng Pháp, tiếng Anh và đặc biệt với đơn lập, đa thanh (6 thanh), nên người Việt nói như hát, đặc biệt thơ người Việt, thơ lục bát có thể hát hàng trăm, hàng ngàn điệu hát dân ca các miền rất du dương, tình cảm chứ không kích thích hiếu chiến, nhạc hùng như tân nhạc tức ảnh hưởng nhạc Tây Phương mà không một dân tộc trên thế giới nào có được như thế.
               
Chính do có bản sắc riêng độc đáo, độc nhất vô nhị ấy từ cách ăn, cách mặc như tà áo dài, thơ ca luôn là vũ khí sắc bén võ trang tinh thần, nung nấu tinh thần yêu nước chống giặc như 17 lần Phưong Bắc xâm lược chứ không phải do ăn thịt chó, thịt chuột, thịt chim  thú hoang như  Ông Brinkley lầm tưởng người Việt hung dữ đâu.
             
Nếu Ông Brinkley đọc kỹ lịch sử Việt Nam sẽ thấy các vua thời nhà Lý, Trần từ thế kỷ 11- 13, tiêu biểu nhất là vua Trần Nhân Tôn mà Việt Nam vừa mở hội lễ Yên Tử ngày hôm qua, là vị vua đã chiến thắng 2 lần xâm lược của đế quốc Nguyên Mông, sừng sỏ nhất thế giới thế kỷ 13, sau khi chiến thắng quân xâm lược đã rũ áo đi tu và khai sáng phái thiền Trúc Lâm của Việt Nam, để lại gương sáng muốn đời về lòng nhân ái cho người Việt cũng như của nhân loại. Nhà vua còn chu du phía Nam và đã hứa gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm để có của sính lễ lấy hai châu Ô và Lý (Huế-Bình Trị Thiên và Quảng Nam – Đà Nẵng). Cũng như thế các chúa Nguyễn cũng rất sùng đạo Phật cũng gả công chuá Ngọc Vạn để đổi lấy đất Thủy Chân Lạp đang bị bỏ hoang của các di dân Việt đã tới đó khẩn hoang trước.
               
Sự thật lịch sử văn hóa Việt từ cách ăn, cách mặc, cách ở, cách đối xử chỉ kể vài nét ra đây là như thế không hề hung dữ, rất trọng hòa hiếu, rất hiếu học, rất hiếu khách mà nhiều du khách Phương Tây từ thế kỷ 19 trở về trước đều đã viết trong du ký của mình, chứ không phải tôi chủ quan nói đâu.

NGƯỜI VIỆT NAM CẦN TỰ SUY NGHĨ TỰ TRÁCH MÌNH PHẢI LÀM SAO TRÁNH NHỮNG HIỂU LẦM VỀ DÂN TỘC MÌNH
             
Dĩ nhiên hiện còn rất nhiều những hiện tượng khác do hậu quả của cuộc chiến tranh vô cùng khốc liệt và nhiều thương đau cũng như cách quản lý còn nhiều hạn chế khiến các du khách có thể hiểu lầm về người Việt Nam. Đúng hiện còn quá nhiều vấn đề cần phải giải quyết để xây dựng một xã hội lành mạnh, văn minh được sự quí trọng của mọi người.
             
Một nước Việt Nam có quá khứ lịch sử đấu tranh rất đáng tự hào sẽ đáng được xây dựng thành một nước Việt Nam hùng cường trong đó có một nền ẩm thực lấy tự nhiên làm gốc vừa ngon vừa lành rất lợi cho sức khỏe con người, giúp loài người tránh được những bệnh tật thời đại như bệnh tim mạch, tiểu đường, béo phì, bệnh gút (gout), bệnh ung thư (cancer)...
             
Tôi từng đi vào nghiên cứu rất trẻ, năm 26, 27 tuổi, năm 1966, tôi đã là chủ nhiệm kiêm chủ  bút một tập san nghiên cứu sâu là Tập san Sử Địa mà nay người Việt nam đều thừa nhận rất có giá trị. Tôi đã dành cả cuộc đời cho nghiên cứu quốc học từ việc thành lập Nhóm Nghiên cứu & Phát huy Truyền thống Việt Nam, Nhóm nghiên cứu văn hóa ăn uống Việt Nam... nên tôi rất biết đến những nét đẹp, cái hay, cái độc đáo của lịch sử, văn hóa Việt Nam, nên tôi rất yêu Việt Nam và mong truyền lại những hiểu biết cho mọi người nhất là giới trẻ Việt Nam hay cả những người nước ngoài như ông Brinkley.
             
Tôi thấy Việt Nam không có các triết gia song lại có những triết lý sống của dân tộc qua ca dao tục ngữ như triết lý bầu bí: “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” hay “Thương người như thể thương thân” hiện đang cần cho nhân loại khi mà khoa học kỹ thuật phát triển vượt bậc, với sự cạnh tranh quyết liệt và hung dữ như thế kỷ trước thì với các lò hạt nhân, kho vũ khí hạt nhân hay hóa chất nhân tạo đang làm độc hại thay đổi khí hậu, nhấn chìm trái đất cũng như nổ tung trái đất. Không chỉ người Việt mà cả nhân loại phải thương nhau cùng chung một giàn trái đất.
             
Việt Nam lại có rất nhiều di sản văn hóa phi vật thể quí báu của nhân loại như vừa rồi UNESCO công nhận việc thờ Quốc Tổ Hùng Vương, thờ tổ tiên ông bà cha mẹ cũng như việc thờ anh hùng dân tộc, có Đền Vệ quốc ngay từ thời Lý thế kỷ 11-12. Tôi và nhà thơ Mai Trinh vừa sáng tác hơn 1500 câu lục bát 12 hiền kinh Quốc đạo tôn vinh Quốc tổ, sự Đại hòa dân tộc, sự kiên cường chống ngoại xâm cũng như những người được cả dân tộc tôn vinh thành thánh như Đức Trần Hưng Đạo, thành phật như Giác Hoàng Trần Nhân Tôn hay Bà chúa Liễu Hạnh, bà chúa Xứ... đã được các nghệ sĩ hát thơ với nhiều làn điệu dân ca Việt Nam trong chương trình “Đêm Ca trù & Hát thơ Báo Hiếu” nhân kỷ niệm 20 năm ngày mất của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phạm văn Mùi (xem Google: Đêm Ca trù & Hát thơ Báo Hiếu).
           
Tôi cũng hy vọng cũng cơ hội này sẽ có nhiều người nghiên cứu nước ngoài, biết đâu chính ông Brinkley cũng sẽ nghiên cứu, tìm hiểu một cách khách quan những điều tôi vừa nói qua trên để viết lại như lời Ông đã hứa.

Theo tôi, đây lại là thời cơ tốt cho chính người Việt Nam từ chính quyền đến người dân phải làm sao, tự nhìn lại mình từ cái hay cái dở để không còn có sự hiểu lầm võ đoán, xúc xiểm đến cả một dân tộc này nửa.
             
Tôi đang dự tính viết về “người Việt xấu xí” mà trong trường ca gia đình quốc đạo do tôi và nhà thơ Mai Trinh sáng tác gồm 6000 câu lục bát, trong mục gia huấn ca tôi có nói đến 10 đặc điểm vừa xấu xí vừa cái hay của người Việt như thiếu liên kết, thiếu đoàn kết, thích hưởng thụ sớm, hoang phí vô bổ, ít quan tâm đến sự hoàn hảo, tính rất thực tế song lại hay mơ mộng, chạy theo ảo tưởng, tính cởi mở vui vẻ lại không dài lâu; yêu hòa bình, nhẫn nhịn lại không chịu  bị làm nhục, tự ái rất cao... nhất là hiện nay miệt mài hận thù, ham lợi ích nhóm và cá nhân mà quên đi lòng yêu nước trong xây dựng đất nước vốn bị quá nhiều thương đau và đang quá nhiều nguy cơ như hiện nay.
             
Mỗi người Việt bất cứ ở đâu phải tự trách mình, lỗi tại mình trước hết!
             
Tôi viết bài này với mong muốn gửi tới các bạn trẻ trên thế giới nhất là các bạn trẻ Việt Nam khắp nơi trên thế giới, xin dịch ra tất cả các thứ tiếng trên thế giới nhất là tiếng Anh để ông Brinkley đọc.
             
Tôi cũng xin cám ơn ông Brinkley đã tạo cơ hội cho tôi viết bài này. Tôi cũng rất vui mừng thấy các bạn trẻ Việt Nam khắp nơi phản ứng rất nhanh, có người lập cả trang mạng lấy chữ ký đòi đuổi việc ông Brinkley.
               
Với tinh thần yêu nước của người Việt cũng như tinh thần công bằng, khách quan, tôn trọng sự thật của những người nước ngoài kể cả người Mỹ khi dân tộc Việt Nam bị xúc xiểm như vừa qua, tôi rất vững tin vào tương lai của Việt Nam sẽ không sao khi có nguy cơ lớn đến đâu ở Biển Đông.
             
Biết đến những gì xấu xí nếu có, ở đời vốn nhân vô thập toàn mà! Đất nước nào cũng vậy, ở đâu cũng có thiên đường, ở đâu cũng có địa ngục hay những gì hay đẹp độc đáo, hay sự thật ở đâu cũng được tôn trọng cũng như sự tử tế là điều rất cần cho chúng ta.

Với hơn 3000 món ăn thuần Việt trong bữa cơm hàng ngày hay tiệc trong giỗ tế, khao vọng  khiến người Việt giữ được bản sắc riêng chống đồng hóa dù bị người Hán cai trị hơn 1000 năm. Ăn của người Việt lại là một nghệ thuật, một khoa học; món nào vị ấy với gia vị tự nhiên, không lẫn lộn với các món khác.Chẳng hạn như thịt chó, phải là chó nuôi để ăn thịt không phải chó Tây, chó Nhật, phải có củ riềng, lá mơ tam thể và cả mẻ, một loại cơm lên men chua chua ngọt ngọt mà người miền Nam ít dùng, nên không làm được món thịt chó ngon và cũng không thích ăn. Trong khi ấy những người theo đạo công giáo như Bùi Chu, Phát Diệm ở Miền Bắc di cư vào Nam lại rất thích ăn  thịt chó (chó ta, chuyên nuôi để ăn thịt) nhất là trong các dịp lễ đạo.

Tiến sĩ sử học Nguyễn Nhã
(Trưởng Đề án Bếp Việt, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu ẩm thực Việt Nam)

Nguồn: http://www.tinmoitruong.vn/ban-doc-viet/mot-bai-bao-dang-cho-nguoi-viet-suy-nghi_72_21454_1.html#.UT6bgLJEdq0

Tuesday, December 25, 2012

Phát biểu khai mạc bàn tròn “Giữ gìn Bản sắc và Giá trị Ẩm thực Truyền thống Việt Nam”


* Lời phát biểu của TS. Nguyễn Nhã, Trưởng Đề án Bếp Việt trong buổi bàn tròn “Giữ gìn Bản sắc và Giá trị Ẩm thực Truyền thống Việt Nam” tổ chức tại Nhà Lưu niệm Cố Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Phạm Văn Mùi.

Đề án Bếp Việt với chương trình "Cùng nhau xây dựng Bếp Việt cho thế giới" từ năm 2007 và ra mắt trang mạng www.amthuc.net .vn năm 2009 với sự kết nối các chuyên gia ẩm thực, các chuyên gia công nghệ thực phẩm xây dựng lý luận Bếp Việt, tích cực kết nối với các trường đào tạo đầu bếp Việt cũng như các doanh nhân nhà hàng, các doanh nghiệp chế biến thực phẩm Việt Nam hầu từng bước chuẩn hóa ẩm thực Việt, chuẩn hóa các món ăn, chuẩn hóa các sản phẩm thực phẩm chế biến, chuẩn hóa các nhà hàng, đóng góp thiết thực cho việc quảng bá ẩm thực Việt ra thế giới.

Từ những sự kiện tổ chức rất nhiều nơi như tại Khu Du lịch Văn Thánh, trường Trung cấp Du lịch & Khách sạn Nhà hàng Saigontourist, trường đào tạo đầu bếp chuẩn quốc tế Mint, Công Ty CP Tin Học Lạc Việt… hôm nay lại cùng nhau tổ chức sự kiện bàn tròn “Giữ gìn Bản sắc và Giá trị Ẩm thực Truyền thống Việt Nam” vả giới thiệu hai món ăn truyền thống độc đáo của Việt Nam: Giò lụa (chả lụa) và Chả giò (nem rán) nhân dịp Lễ hội Tết nguyên đán năm Quý Tỵ sắp tới tại Nhà Lưu niệm Cố Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Phạm Văn Mùi.

Về góp phần xây dựng lý luận Bếp Việt, qua các sách "Bản sắc ẩm thực Việt Nam", "Độc đáo ẩm thực Thăng Long Hà Nội", "Độc đáo Ẩm thực Huế", chúng tôi đã đúc kết cô động rằng ẩm thực Việt Nam lấy tự nhiên làm gốc, vừa ngon vừa lành, rất ít mỡ nhiều rau, rất lợi cho sức khỏe con người, tránh những tật bệnh thời đại như tim mạch, tiểu đường, gút, ung thư…

Chúng tôi đang chuẩn bị các đầu sách như "Phở Việt", "Độc đáo ẩm thực Nam Bộ", "Độc đáo ẩm thực Sài Gòn", "Độc đáo ẩm thực dân tộc ít người tại Việt Nam".

Chúng tôi hy vọng các cuốn sách trên sẽ giúp chúng ta cùng nhau chuẩn hóa các món ăn, chuẩn hóa các sản phẩm chế biến thực phẩm chuẩn hóa các nhà hàng, thúc đẩy việc đào tạo đầu bếp Việt, các chuyên gia ẩm thực… để cùng nhau góp phần xây dựng bếp Việt ra thế giới.

Sau đây tôi sẽ trình bày những gì tôi biết về hai món ăn truyền thống Việt Nam trong dịp tết truyền thống xưa cũng như nay, tôi sẽ đặt câu hỏi cho các chuyên gia ẩm thực, các chuyên gia công nghệ thực phẩm và mong trao đổi và bằng những hành động cụ thể có thuyết minh. Sự trung thực quyết giữ uy tín thương hiệu lâu dài là chiến lược xây dựng thương hiệu từ chế biến thực phẩm đến nhà hàng, và hy vọng trong tương lai sẽ có công ty phát triển nhà hàng chuẩn Việt Nam như Thái Lan đã làm với hơn 8000 nhà hàng chuẩn Thái trên thế giới.

Làm sao để giữ gìn bản sắc và giá trị ẩm thực truyền thống Việt Nam?

Vấn đề giữ gìn bản sắc và các giá trị ẩm thực truyền thống Việt Nam đang được sự quan tâm của những nhà nghiên cứu, các chuyên gia và một số doanh nghiệp chuyên về ẩm thực. Đây là một việc làm thiết thực nhằm trả lại cho ẩm thực Việt những giá trị đúng nghĩa của nó.

 Những trăn trở trên được GS TSKH Trần Văn Khê, TS Nguyễn Nhã, chuyên gia ẩm thực Bùi Thị Sương đưa ra thảo luận trong buổi bàn tròn “Giữ gìn bản sắc và giá trị ẩm thực truyền thống Việt Nam” tổ chức tại Nhà lưu niệm cố nghệ sĩ nhiếp ảnh Phạm Văn Mùi. Chương trình do Đề án Bếp Việt phối hợp với Công ty CP chế biến hàng xuất khẩu Cầu Tre đứng ra tổ chức.


TSKH Trần Văn Khê (giữa), TS Nguyễn Nhã, chuyên gia ẩm thực Bùi Thị Sương tại buổi bàn tròn ẩm thực

Chương trình còn có sự góp mặt của chuyên gia ẩm thực Triệu Thị Chơi, Hoàng Ngọc Thương, bác sĩ Nguyễn Lân Đính, nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn, ông Trần Văn Hùng - Hiệu trưởng Trường trung cấp Du lịch và Khách sạn Saigontourist, TS Đàm Sao Mai... Nội dung chính của buổi bàn tròn hướng đến hai món ăn độc đáo của Việt Nam là giò lụa và chả giò. Theo TS Nguyễn Nhã đây là hai món ăn độc đáo của Việt Nam, một có lâu đời ở miền Bắc, một xuất hiện sau giò lụa ở miền Nam. Giò là một loại món ăn gói chặt chủ yếu luộc, gồm có giò lụa hay giò nạc, giò mỡ, giò thủ, làm bằng  thịt lợn (heo), hay giò bò làm bằng thịt bò, sau này có thêm giò chay. Chả là món ăn  chiên, nướng, hấp được xắt từng miếng hay giã, xay bằng thịt, tôm, cá, củ quả… rất nhiều chất, nhiều vị, rất phong phú tới 50 loại chả. Cũng giống như nguyên liệu làm giò lụa, song thay vì luộc mà nướng thì được gọi là chả như chả quế. Chả phải có dầu mỡ mà khô, còn có nước thì là món nấu hay luộc hoặc có nhiểu dầu mỡ lại xen rau củ quả cắt miếng thì lại là món xào.

GS TSKH Trần Văn Khê cho biết việc công nghiệp hóa và chạy theo lợi nhuận đã làm mất đi những hương vị truyền thống của hai món ăn độc đáo này. Ăn giò lụa hiện nay chả khác nào ăn miếng bột, mất đi dộ dẻo dai, thơm nồng của miếng giò lụa. Theo ông, sở dĩ giò lụa truyền thống có hương vị độc đáo, đậm đà vì kết hợp được ba yếu tố: Thứ nhất thịt lợn tươi ngon còn nóng đem giã nhuyễn trong cối đá bằng chày gỗ mít, thứ hai việc gói bằng lá chuối tạo hương vị rất riêng và đặc trưng, thứ ba là nhờ vào sự đậm đà của hương vị nước mắm. Ba yếu tố trên làm nên linh hồn của món giò lụa một cách ngon và độc đáo. Còn đối với món chả giò, tính độc đáo nằm ở cách làm nhân và bánh tráng bằng bột gạo bên ngoài. Món ăn phản ánh cả một nét văn hóa nông nghiệp lúa nước ngàn đời của dân tộc ta.

Người có nhiều năm nghiên cứu và trình diễn ẩm thực Việt khắp nơi trên thế giới, chuyên gia ẩm thực Bùi Thị Sương cho biết chúng ta nên phân biệt rõ hai khái niệm giò và chả. Người miền Nam hay nhầm lẫn và gọi là chả lụa. Giò lụa mỗi miền có những hương vị đặc trưng, điều đó phản ánh nét bản sắc và tính đa dạng trong khẩu vị ẩm thực của người Việt. Theo bà, sở dĩ có tên gọi là giò lụa bởi vì miếng giò mềm mịn, đặc biệt là lớp lá chuối non gói bên trong tiết chất màu vàng bám vào miếng giò như lụa thoạt nhìn trông như lụa. Bà cho biết, món ăn này ông cha ta vận dụng tính đàn hồi và tính bám dính để tạo nên nét độc đáo. Còn đối với món chả giò Việt Nam, tính ngon lành nằm ở nhân, nhân dùng cuốn còn sống nên rất thơm, bánh cuốn làm bột gạo và nước chấm mỗi vùng miền cũng có hương vị rất khác nhau.

Cũng tại buổi bàn tròn, Công ty CP chế biến hàng xuất khẩu Cầu Tre trình diễn và giới thiệu hai đặc sản của công ty là giò lụa và chả giò Cầu Tre. Để đảm bảo độ tươi của giò lụa truyền thống, Cầu Tre sử dụng thịt heo tươi còn nóng, xay nhuyễn, gia vị không thể thiếu nước mắm nhĩ, đồng thời giò được gói trong lá chuối (đa phần hiện nay các công ty sản xuất công nghiệp gói bằng nilon). Với quy trình sản xuất chất lượng cao, mỗi sản phẩm giò lụa Cầu Tre an toàn và đậm hương vị truyền thống. Còn đối với chả giò với những hương vị riêng đã được gìn giữ hơn 30 năm qua mang đến cho người tiêu dùng sự độc đáo thú vị riêng, không lẫn vào đâu được.

Buổi bàn tròn ẩm thực đã mang lại những thông tin bổ ích và giá trị về văn hóa ẩm thực Việt Nam. Qua đó cho thấy việc gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa ẩm thực Việt trở nên cấp thiết. Những dooanh nghiệp kinh doanh nên biết phối kết truyền thống và hiện đại, giữ gìn những cái cốt lõi của ẩm thực Việt.

Bình San

Nguồn: http://www.amthuc.net.vn/xemtintuc/tabid/70/ArticleId/932/Lam-sao-de-giu-gin-ban-sac-va-gia-tri-am-thuc-truyen-thong-Viet-Nam.aspx

Giò lụa, chả giò xưa và nay


* TS Nguyễn Nhã  (Trưởng Đề án Bếp Việt)

Giò lụa và chả giò là hai món ăn thuần Việt rất độc đáo của Việt Nam, một có lâu đời ở miền Bắc, một xuất hiện sau giò lụa ở miền Nam.

Giò là một loại món ăn gói chặt chủ yếu luộc, gồm có giò lụa hay giò nạc, giò mỡ, giò thủ, làm bằng  thịt lợn (heo), hay giò bò làm bằng thịt bò, sau này có thêm giò chay.

Chả là món ăn chiên, nướng, hấp được xắt từng miếng hay giã, xay bằng thịt, tôm, cá, củ quả… rất nhiều chất, nhiều vị, rất phong phú tới 50 loại chả. Cũng giống như nguyên liệu làm giò lụa, song thay vì luộc mà nướng thì được gọi là chả như chả quế. Chả phải có dầu mỡ mà khô, còn có nước thì là món nấu hay luộc hoặc có nhiều dầu mỡ lại xen rau củ quả cắt miếng thì lại là món xào.

Giò lụa tươi

Giò lụa tươi là món ăn truyền thống ở miền Bắc rất lâu đời, đã có trong cuốn sách Thực vật tất khảo tường ký lục mà theo Hoàng Xuân Hãn là của một quan thái giám thời Lê Trung Hưng, giữa thế kỷ 18 (1744-1745).


Giò lụa

Giò là món ăn được gói chặt, được luộc hoặc hấp làm bằng thịt lợn. Trong Nam gọi là chả thì không đúng cũng như chả giò của miền Nam được có người ở miền Bắc gọi  là nem rán. Nem là loại món ăn lên men chua, chả thì không thể luộc. Có lẽ do thấy chả giò giống như cái nem ở miền Bắc gói hình tròn ống, nên gọi là nem chăng? Và giò lụa mịn giống như chả không phải luộc, nên có người đã lầm tưởng, gọi quen, không ai thắc mắc chỉnh sửa. Ngay cả tên người như Sương Nguyệt Anh đã viết nhầm là Ánh.


Các nghệ nhân thực phẩm Cầu Tre đang gói giò lụa

Giò lụa là món ăn tiêu biểu tinh hoa của ẩm thực Việt thể hiện tính lấy tự nhiên làm gốc vừa ngon vừa lành. Tuy kỹ thuật không cầu kỳ song rất tinh tế. Chỉ cần sai một chút là chất lượng kém hẳn. Chẳng hạn thịt không tươi, giò kém chất lượng, thậm chí không làm được giò; thịt càng tươi, tươi đến mức cơ thịt còn đang động đậy; khi giã, đâm không nhanh, thịt có thời gian phân hủy, giò cũng không ngon. Thiếu chất mỡ, chất bì làm giò không kết dính, mịn được… Thiếu nước mắm ngon, giò không đậm đà ngon được… Không có lá chuối, mùi thơm tự nhiên của giò cũng giảm đi.

Theo Thực vật tất khảo tường ký: “Giò lụa chọn thịt thăn đừng hôi. Lấy ngón tay mà vặn cho dẻo tốt. Chớ mua thăn già, thăn non. Như bì thì bì lợn non, cho trắng, tốt, mỏng bì. Đem về đánh muối bì cho trắng. Luộc lá chuối cho lụi, rửa đi. Sắp lá cho sẵn. Lét thăn ra, dằn qua đi. Đâm cho chóng nhỏ. Phỏng cái giò thì ba đồng cân (1/10 lạng:39gr) mỡ, trộn vào mà cùng đâm. Tra nước mắm cho vừa mà bó cho chặt mà nấu cho chín. Phỏng nấu nó như luộc trứng chín thì nó chín. Sẽ lấy ra mà ép, mà châm (chọc thủng lá gói cho nước chảy đi) cho ráo”.

Giò lụa hay giò nạc thường làm trong dịp tết, giỗ, nhất ngày tết, người dân có thể chung nhau (đánh đụng) mổ lợn (heo), nhất là mùa đông xuân mát lạnh, giò có thể để lâu, ăn trong suốt những ngày tết nhiều ngày.
Khi đem giò lụa vào kinh doanh, khó có thịt tươi và sản xuất nhiều rất khó có giò ngon, người ta dùng các phụ gia bảo quản  như hàn the, giò không bị bở, nát, dai hơn, nên vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm trở nên phức tạp. Cũng do kinh doanh, nên nhiều nơi thêm nhiều mỡ hay nhiều bì.

Chả giò

Chả giò được người miền Bắc, như quê tôi gọi là chả Sài Gòn, nơi giao lưu với nhiều nền ẩm thực Tàu, Tây cũng như dân Chăm, Khmer.

Chả giò là món ăn tiêu biểu giao lưu ẩm thực đa dạng, ra đời lúc nào thì chưa ai biết chắc chắn. Nếu căn cứ vào sự ra đời của Sài Gòn thì sớm nhất chỉ vào thời Pháp thuộc.


Chả giò

Không phải chỉ có Việt Nam có chả giò mà còn có chả giò Quảng Đông, Philippines, Thái Lan, song chả giò Việt Nam đã được CNN năm 2011 bình chọn là một trong 50 món ăn ngon nhất thế giới và là 1 trong 12 món ăn ngon Việt Nam được Kỷ Lục châu Á năm 2012 bình chọn.

Chả giò thuần Việt tối thiểu phải có các yếu tố Việt sau đây:

Cuốn bằng bánh tráng gạo Việt Nam không bằng bánh hoành thánh của Trung Quốc.

Nước mắm phải được nêm nếm và dùng nước chấm, chủ yếu là nước mắm pha Sài Gòn.

Nhân gồm nhiều chất nhiều vị gồm thịt tôm cua và các chất độn rau củ quả không quá nhiều.

Ngoài ra với đặc điểm ẩm thực Việt Nam lấy tự nhiên làm gốc vừa ngon vừa lành, rất ít dầu mỡ, nhiều rau nên không những do nguyên vật liệu mà còn do cách chế biến và cách ăn sao cho phù hợp.

Điểm độc đáo nhất của Việt Nam chả giò có thể trở thành một bữa ăn hoàn chỉnh, ăn kèm với bún Việt, rau sống bao gồm cả các loại húng cũng như đồ chua có tính lành bài thuốc.

Từ nguyên vật liệu đến kỹ thuật chế biến rất hệ trọng đến chất lượng đảm bảo yêu cầu lấy tự nhiên làm gốc vừa ngon vừa lành.

Cách chế biến muốn ngon ngoài việc chọn nguyên vật liệu chất lượng thì trước hết phải cuốn không quá dày bánh tráng mà cũng không quá mỏng để chả dễ vỡ. Để giòn phải cho chanh dấm bôi vào bánh tráng hay cho chanh hay dấm vào dầu mỡ. Hoặc chiên sơ khi ăn mới chiên lần nữa vừa nóng vừa giòn. Chất độn chứa nước như củ cải, nấm rơm không nên dùng vì các chất chứa nước này sẽ làm chả mất giòn nếu để nguội.

Nhân chả giò chỉ nên độn khoảng 30%, còn lại là trứng, thịt heo, tôm; nếu tôm thịt, mỗi thứ 50%; nếu có thịt heo, tôm, cua bể thì nên mỗi thứ 1/3.

Chất độn gồm miến, mộc nhĩ, nấm hương, hành và gia vị…

Hiện nay chả giò có nhiều biến tấu, ngoài chả giò rế, còn có chả giò gà, chả giò hải sản như mực, chả giò ốc, chả giò chay…

Các món giò lụa, chả giò truyền thống làm trong gia đình dễ có chất lượng, dễ ngon không những dễ tươi, ít chất độn, ít chất pha, không cần đến phụ gia bảo quản hay làm cho dai, mịn.

Đi vào kinh doanh lại khác, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm trở nên phức tạp trở nên rất hệ trọng, nên chỉ có những thương hiệu có uy tín mới đảm bảo tốt vệ sinh an toàn thực phẩm cũng như ngon lành.

Vấn đề chuẩn hóa các món ăn nhất là đảm bảo tính thuần Việt truyền thống và tính vệ sinh an toàn thực phẩm, là điều cấp bách phải làm, mới giúp phát triển ẩm thực Việt ra thế giới.

Vấn đề đặt ra cho các chuyên gia ẩm thực, các chuyên gia công nghệ thực phẩm  thực hiện quy trình như thế nào, những biện pháp nào để đảm bảo sản phẩm giò lụa và chả giò vừa ngon vừa lành, nhất là việc nuôi trồng không sạch, hiện nay rất độc hại và việc xử dụng các chất chất hóa học, kích thích, các  phụ gia cũng rất độc hại.

Tôi được biết các công ty chế biến thực phẩm nước ngoài như Starbuck có hẳn một bộ phân quản trị chất lượng, an toàn thực phẩm rất qui mô và hiệu quả. Ở Việt Nam hiện nay có công ty nào đã có tổ chức quản trị chất lượng và an toàn thực phẩm ra sao nhất là cho hai món ăn truyền thống trong dịp tết sắp tới?
Sự trao đổi giải đáp những câu hỏi trên sẽ chính chúng tôi cũng như những người ăn hai món ăn truyền thống trong dịp tết sắp tới được biết rõ, sẽ có đánh giá khách quan khoa học các sản phẩm hiện có trong thị trường hiện nay.

Chính sự trung thực giải đáp những thắc mắc của tôi sẽ giúp chúng ta an tâm cùng góp phần đẩy mạnh việc quảng bá ẩm thực Việt ra thế giới như Đề án Bếp Việt mà tôi là trưởng đề án từng quan tâm, tích cực thúc đẩy.

Nguồn: http://www.amthuc.net.vn/xemtintuc/tabid/70/ArticleId/931/Gio-lua%2c-cha-gio-xua-va-nay.aspx

Sunday, October 7, 2012

Trầy trật ẩm thực Việt

05/10/2012 , 07:02

TP - Gỏi cuốn: tuyệt hảo, chỉ muốn gắp thêm nữa. Phở: thơm, ngon tuyệt và cân bằng. Đó là nhận xét của hãng tin CNN (Mỹ) về hai món ăn Việt nằm trong danh sách 50 món ăn được cho là ngon nhất thế giới.


Cơm hến ở nhà hàng O Hips (Seoul, Hàn Quốc) trong tuần lễ quảng bá ẩm thực Việt do nhà hàng tổ chức.

CNN còn dẫn từ một tạp chí về sức khỏe, trong đó các nhà khoa học xếp thực phẩm Việt đứng thứ 3 trong 10 thực phẩm dân tộc có lợi nhất cho sức khỏe, sau thực phẩm Hy Lạp và thực phẩm tươi California.

“Những loại rau thơm tươi rói, rất nhiều rau xanh cùng cách thức nấu ăn sử dụng rất nhiều nước dùng thay vì dầu mỡ. Mùi tàu (ngò), húng lủi, húng quế, hồi, ớt đỏ… được sử dụng rất nhiều, phương thuốc từ lâu đã được chứng minh chữa rất nhiều loại bệnh”, bài viết nhận xét.

Việt Nam được xếp đứng trên cả Nhật Bản, một quốc gia nổi tiếng chú trọng về dinh dưỡng, sức khỏe và tuổi thọ cho thấy nền ẩm thực Việt không lép vế trên thế giới một chút nào.

Chính phủ Thái Lan từng ra chỉ tiêu cho đại sứ quán nước này ở các nước mỗi năm phải mở được bao nhiêu nhà hàng. Điều này khiến ẩm thực Thái nổi tiếng đến độ, nhiều Việt kiều ở châu Âu cũng trưng bảng nhà hàng Thái để hút khách.

Thế nhưng, thực phẩm Thái chỉ xếp thứ 10 trong danh sách được CNN đăng tải. Các nước có nền ẩm thực nổi tiếng như Ấn Độ, Ý, Mexico cũng chỉ xếp lần lượt các vị trí 5, 6, 8.

Ngon và lành

TS Nguyễn Nhã, người đứng ra thành lập Viện Nghiên cứu ẩm thực Việt Nam, trưởng đề án Cùng nhau xây dựng bếp Việt cho thế giới nói: “Từ nguyên vật liệu đến cách nấu của món Việt giữ được hương vị tự nhiên và cách ăn cân bằng âm dương, hài hòa. Ngày nay nếu ăn theo cách của Trung Hoa hay phương Tây thì rất nhiều thịt, dầu mỡ, ít rau. Nếu người Hoa dùng ngũ vị hương thì chúng ta chỉ dùng củ hành, củ tỏi, củ nghệ, củ riềng, vừa là gia vị, vừa có công dụng chữa bệnh”.
Ở Mỹ, 54 tiểu bang thì trên 50 tiểu bang đều có phố người Hoa. Trừ quận Cam, ở các tiểu bang khác hầu như rất ít nơi bán thực phẩm Việt Nam. Một điều đáng buồn là ngoài đồ đông lạnh, thực phẩm Việt Nam không được người Mỹ tin dùng. Họ thích đồ Thái với bao bì đẹp và có vẻ an toàn. Còn các món như tương ớt, mắm nêm, mắm tôm… đều là hàng… made in USA. 
CHỊ MINH NGUYỄN
Martin Yan, đầu bếp nổi tiếng thế giới với câu nói: If Yan can cook, so can you (nếu Yan làm được, bạn cũng làm được), đến Việt Nam tháng 5 vừa rồi để làm bộ phim quảng bá ẩm thực Việt.

Yan nói: “Việt Nam xứng đáng là bếp ăn của thế giới”. Hằng năm, cứ vào ngày 8-1, Yan lại đứng ra làm giám khảo cho cuộc thi những nhà hàng Trung Hoa nổi tiếng nhất ở Mỹ.

Tuy nhiên, năm 2012, Yan bỏ lễ hội tôn vinh ẩm thực truyền thống Trung Hoa thường niên để qua Việt Nam giúp bạn ông – Dương Huy Khải, một đầu bếp Việt nổi tiếng mở nhà hàng.

Ở Việt Nam, Yan dành toàn bộ thời gian để thưởng thức ẩm thực, đặc biệt là ở vỉa hè. Sự kiện Yan đến Việt Nam để quảng bá ẩm thực Việt, và Christine Hà, cô gái khiếm thị gốc Việt trở thành vua đầu bếp Mỹ khiến thế giới biết nhiều hơn đến ẩm thực Việt Nam cũng như sự khéo léo, tinh tế của người Việt trong nấu nướng.


Cuốn sách dạy nấu món Việt của chị Trương Thị Quyền, chủ nhà hàng Little Asia ở thủ đô Brussel (Bỉ) bán hết sạch 6.000 cuốn ngay khi vừa ra lò.

CNN cho rằng, món ăn Việt Nam không nổi tiếng vì độ phức tạp. Rất nhiều những món ngon của Việt Nam có thể được nấu ngay trong quán cóc vỉa hè.

Chị Trương Thị Quyền, chủ nhà hàng Little Asia ở phố Sainte Catherine, thủ đô Brussel (Bỉ), nổi tiếng với cuốn sách “Koken met Quyền” (Nấu ăn với Quyền - Nhà xuất bản BMP – Antwerp), hướng dẫn 80 món ăn thuần túy Việt Nam với công thức khá đơn giản.

Các gia vị đều có thể tìm thấy ở các cửa hàng rau quả của người Việt, người Hoa hoặc các siêu thị ở Bỉ.

Năm 2006, cuốn sách ngay khi vừa xuất bản đã được bán hết sạch (6.000 cuốn), cho thấy sự chú ý đặc biệt của người Bỉ đối với các món ăn Việt Nam.

Trầy trật

Tuy nhiên, không phải hữu xạ tự nhiên hương mà người Việt có thể ung dung đợi người Tây quảng bá ẩm thực hộ mình. Thái Lan khử mùi nước mắm Phú Quốc, và biến nó thành thương hiệu Thái Lan là bài học xương máu cho người Việt.

Nước mắm Phan Thiết, kẹo dừa Bến Tre… cũng bị các công ty Mỹ nhanh tay đăng ký thương hiệu. Trong khi đó, các chương trình quảng bá ẩm thực rình rang nhưng hiệu quả mang lại không cao.

Các kỷ lục Việt Nam về chiếc bánh khoái lớn nhất, đĩa gỏi ngó sen lớn nhất, chiếc bánh trung thu khổng lồ cho 200 người ăn, chiếc bánh xèo lớn nhất, tô mì Quảng lớn nhất… hầu như không để lại nhiều dấu ấn trong lòng khách du lịch quốc tế.

Anh Bryan, khách du lịch người Anh, bình luận về chiếc bánh khoái lớn nhất trong lần xem xác lập kỷ lục ở Huế: “Trông nó giống đĩa bánh khoái trong một quán xập xệ ở cửa Thượng Tứ, nhưng lớn hơn”.

Chị Phạm Thị Quỳnh Phương, nhân viên khách sạn Legend (Q.1, TPHCM), cho hay: “Khách nước ngoài nói, đồ ăn Việt thanh, nhẹ nhàng, không béo, kích thích họ ăn được rất nhiều rau. Phở vẫn là cái tên đầu tiên khi họ nói món Việt”.


Phở Việt Nam tại Hàn Quốc do người Hàn chế biến.

Minh Nguyễn, nghiên cứu sinh tại Đại học bang California - Long Beach (Mỹ), nói: “Người nước ngoài biết đến ẩm thực Việt chủ yếu qua internet. Tuy nhiên, khi họ đến các nhà hàng Việt Nam ở Mỹ thưởng thức thì cảm thấy không thú vị như trong bài viết bởi món ăn Việt ở đây đã được chế biến cho hợp với khẩu vị chung của nhiều người, thuộc các sắc tộc khác nhau. Với món bún mắm nêm Huế, người Mỹ chỉ ăn bún, rau, tai heo và chả da. Không có mắm nêm thì món này đâu còn hương vị đậm đà nữa”.

“Mặc dù mang tên Việt, nhưng nhà hàng thay đổi hoặc sáng chế thêm khiến món ăn trở nên pha tạp. Chẳng hạn, thay vì phở bò hay phở gà, ở Nhật người ta lại làm phở tôm, phở nghêu. Nồi nước dùng cũng được pha chế thêm nhiều loại gia vị không thích hợp”, chị Hương Liên, du học sinh ở ĐH Totori (thành phố Totori, Nhật Bản), cho hay.

Không phải tự nhiên mà nói đến ẩm thực Hàn Quốc, bạn trẻ Việt nghĩ ngay tới món kim chi, trong khi không ít bạn có lẽ chưa nếm lần nào. Trong bất cứ bộ phim Hàn Quốc nào được phát ở Việt Nam, món kim chi đều xuất hiện.

Phim Trung Quốc cũng thường xuyên lồng ghép các món ăn truyền thống của họ vào theo kiểu mưa dầm thấm lâu. Trong khi phim Việt cho diễn viên ăn ngập tràn mì ống, pizza, bít tết với leng keng dao nĩa.

 LÊ QUANG MINH

Nguồn: http://www.tienphong.vn/xa-hoi/phong-su/594129/Tray-trat-am-thuc-Viet-tpp.html