Showing posts with label Giáo dục. Show all posts
Showing posts with label Giáo dục. Show all posts

Friday, July 31, 2015

Hát thơ: Di nguyện của GS.TS. Trần Văn Khê


Những vầng thơ thi hóa Di nguyện của GS.TS. Trần Văn Khê do Hãn Nguyên Nguyễn Nhã biên soạn ngày 19/06/2015, NSƯT Hồng Vân hát bằng các làn điệu dân ca ba miền.

Hôm nay mùng sáu sen vàng
Di ngôn để lại - Hai ngàn mười lăm ( 6/6/2015)
Trần Văn Khê húy - chính văn
lập ra di nguyện - chân tâm vững vàng,
tinh thần minh mẫn, rõ ràng:
Ước mơ hậu sự lễ tang, lìa đời
Truyền thống tang chủ nhà tôi
trưởng nam Quang Hải là người quyết ra.
Người cùng hỗ trợ có ba
việc chung thứ nhất hẳn là Ông Xuân
Ông Thùy Bà Lý cận thân
trong Ban Tang Lễ, hương trầm khói lam!
Người Chủ tế Thích Lệ Trang
phối hợp Nhứt Dũng nhạc tang rất cần:
Đờn ca tài tử người thân
khi ra biểu diễn rất cần môn sinh,
hòa tấu một buổi linh đình (đặc biệt).
Mỗi hơi, điệu thức thật tinh vài bài.
Nhạc Truyền thống khác có ai
đến viếng cũng chỉ ít bài mà thôi.
Con cháu, thân thuộc xa xôi
nếu quàn lâu được mọi người kịp thôi.
Tôi mong hỏa táng, cốt tro
về nhà tôi ở, bàn thờ tổ tiên;
bằng không “Tang lễ” quyết liền (Ban Tang Lễ).
Chi phí tang lễ lấy tiền của tôi.
Tiền phúng điếu, lễ xong rồi,
học bổng, giải thưởng tên Tôi hình thành.
Ngôi nhà Tôi ở trở thành
Nhà lưu niệm cũng phải giành tên Tôi.
Mọi hiện vật hiện có rồi
cùng bao tài liệu, mạng thời lập ra (Khánh Vân lập ra)
Vẫn tiếp tục mạng đã qua
phổ biến tư tưởng phải là của Tôi
không thương mại, chẳng khó ai
sử dụng thư viện những ai rất cần
nghiên cứu phổ biến xa gần
Văn hóa dân tộc rất cần cho ta.
Cũng mong công việc cháu Na (Nguyễn Thị Na)
tiếp tục ở lại giúp "Nhà" của tôi (Nhà lưu niệm)
Tất cả trên với ước mơ
Văn hóa truyền thống có cơ lưu truyền.

Tham khảo di nguyện của GS.TS. Trần Văn Khê công bố trên báo Thanh Niên:

“Hôm nay, ngày 5 tháng 6 năm 2015. Tôi tên: Trần Văn Khê. Sinh năm: 1921. Passport số: D5456230. Cấp tại: Cục Quản lý xuất nhập cảnh. Địa chỉ cư ngụ: 32 Huỳnh Đình Hai, P.24, Q.Bình Thạnh, TP.HCM.

Tôi lập Bản di nguyện này trong trạng thái tinh thần hoàn toàn minh mẫn và hiểu rõ các vấn đề mà tôi nêu ra dưới đây, đó là những ước mơ của tôi về lễ an táng và các vấn đề hậu sự khi tôi phải lìa đời, vĩnh viễn ra đi.

1. Người chủ tang sẽ là con trai trưởng nam của tôi: Trần Quang Hải, được toàn quyền quyết định mọi việc… Để giúp việc cho chủ tang, tôi đề nghị lập một tiểu ban tang lễ gồm: nhà văn – nhà báo Nguyễn Đắc Xuân, ông Trần Bá Thùy và bà Lý Thị Lý.

2. Về nghi thức an táng, tuy tôi không theo một tôn giáo nào, nhưng tôi muốn được an táng theo nghi thức Phật giáo. Thượng tọa Thích Lệ Trang sẽ là người chủ tế cho nghi thức an táng.

3. Ban nhạc lễ do nhạc sĩ Nhất Dũng phụ trách (nhạc sĩ Nhất Dũng phải phối hợp với thầy Lệ Trang để tổ chức nghi lễ).

4. Một dàn nhạc đờn ca tài tử gồm những bạn thân đồng điệu và môn sinh của tôi sẽ hòa tấu một buổi đặc biệt trong tang lễ (lưu ý: trong mỗi hơi của điệu thức chỉ cần đánh một vài bài thôi). Những bộ môn nhạc truyền thống khác có thể đến viếng và biểu diễn, tuy nhiên cần ngắn gọn để đừng mất nhiều thời gian.

5. Tôi ước ao linh cữu của tôi sẽ được quàn tại tư gia số 32 Huỳnh Đình Hai, P.24, Q.Bình Thạnh, TP.HCM.

6. Thời gian quàn từ 1 tuần lễ cho đến 10 ngày để các con, các cháu, bạn bè thân thuộc của tôi ở xa có thời gian về kịp dự tang lễ…

7. Tôi ước ao sẽ được hỏa táng, nơi hỏa táng sẽ do ban tang lễ quyết định. Hũ tro mang về để tại tư gia tôi đang sống, dưới bàn thờ ông bà. Nếu vì một lý do gì không để được hũ tro tại tư gia của tôi thì các con tôi cùng ban tang lễ sẽ quyết định nơi nào lưu trữ thuận tiện nhất.

8. Về các chi phí để lo tang lễ thì sử dụng tiền mặt của tôi hiện có tại nhà. Nếu thiếu thì Trần Thị Ngọc Thủy – con gái út của tôi sẽ lấy tiền trong sổ tiết kiệm của tôi tại VN để thanh toán chi phí an táng. Riêng tiền phúng điếu thì ban tang lễ có thể sử dụng số tiền này để lập một quỹ học bổng hoặc giải thưởng Trần Văn Khê để hằng năm phát cho người được giải thưởng nghiên cứu về âm nhạc truyền thống Việt Nam.

9. Về ngôi nhà và các vật dụng trong nhà: Theo hợp đồng được ký kết giữa tôi và cháu Trương Ngọc Thủy, cháu Nguyễn Thế Thanh (nguyên Giám đốc và Phó giám đốc Sở VH-TT TP.HCM) “khi tôi vĩnh viễn ra đi, lúc ấy ngôi nhà này sẽ được sử dụng để làm Nhà lưu niệm Trần Văn Khê”… Những hiện vật dính vào đời sống nghề nghiệp của tôi đem từ Pháp về như: tất cả sách vở, báo chí, phim ảnh, đĩa hát các loại, các nhạc khí, máy ghi hình, ghi âm, máy cassette, máy chuyển tư liệu nghe nhìn, tranh, hình ảnh… giao lại cho ban quản lý nhà lưu niệm giữ… Riêng trang blog spot, Facebook trước đây do cháu Khánh Vân tạo và quản lý cho tôi trên 10 năm. Khi tôi qua đời, cháu sẽ tiếp tục được quản lý và phổ biến tư tưởng của tôi. Không được dùng tư liệu đó vào mục đích thương mại…

10. Tôi ước ao những thủ tục vào đọc sách, tham khảo tư liệu tại Thư viện Trần Văn Khê được dễ dàng cho những người đến thư viện đọc và nghiên cứu. Lưu ý: những tư liệu này chỉ dùng vào công việc nghiên cứu và phổ biến văn hóa, không được dùng vào việc thương mại.

11. Tôi ước mong sau khi tôi vĩnh viễn ra đi, cháu Nguyễn Thị Na – người đã tận tình giúp việc cho tôi trên 10 năm, đã tự tay chăm sóc ngôi nhà này và biết rất rõ những sinh hoạt của tôi trong căn nhà này, được tiếp tục ở lại giúp cho người quản lý Nhà lưu niệm Trần Văn Khê sau này.

Trên đây là những ước mơ của tôi về nghi lễ an táng và việc sử dụng sự nghiệp tinh thần, các vật dụng của tôi để lại vào việc bảo tồn và phổ biến văn hóa truyền thống Việt Nam, đúng theo nguyện vọng và hoài bão của tôi."

* Để góp phần vinh danh giáo sư, Quỹ Văn hóa Giáo dục Hãn Nguyên Nguyễn Nhã sẽ lần lượt công bố những thước phim tư liệu quý về những phát biểu và trả lời phỏng vấn riêng của giáo sư trong suốt hành trình hơn nửa thế kỷ đồng hành cùng phong trào bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống Việt Nam.
* Lời thơ và toàn văn di nguyện: http://www.hannguyennguyennha.com/am-nhac-dan-toc/sang-tac-tho-ca/211-hat-tho-di-nguyen-giao-su-tran-van-khe
* Trang tưởng niệm Giáo sư Trần Văn Khê: http://www.hannguyennguyennha.com/tuong-niem/giao-su-tran-van-khe

Saturday, September 27, 2014

Thư gửi GS.TS. Trần Văn Khê


Bức thư thứ năm của Nguyễn Nhã trong loạt bài "Những bức thư xây dựng chân dung người thầy giáo Việt Nam thế kỷ XX", sẽ được thi hóa đem vào “Trường ca chân dung người thầy thế kỷ XX”.

Thầy Hoàng Xuân Hãn đã đào tạo nhiều thế hệ học trò nổi danh, ở Miền Bắc như GS. Hoàng Như Mai, ở Miền Nam như GS.TS. Nguyễn Chung Tú, ở Pháp phải kể đến GS.TS. Trần Văn Khê.

Trường hợp với Bác Khê thì rất đặc biệt, chắc không ai có dịp gần gũi với Thầy Hãn với thời gian dài như Bác và đã coi như thầy của mình.

Tôi còn nhớ khi Thầy Hãn viết thư cho tôi khi tôi là chủ biên Tập San Sử Địa, đã giới thiệu Bác và Bác cũng từng gửi thư từ Paris cho tôi.

Chính vì thế hồi tháng 8/1974 Bác từ Úc trở về Việt Nam, nói chuyện về âm nhạc cổ truyền ở nhiều nơi tại Sài Gòn, tôi đã đến dự và đã viết bài “Những buổi diễn thuyết về âm nhạc cổ truyền Việt Nam của Giáo sư Trần Văn Khê" lấy bút danh là Hoàng Việt Tử, đăng trong Tập San Sử Địa số 28.

Cũng chính vì được biết sự uyên bác và tài diễn thuyết hay như thế, nên vào năm 1993, khi chuẩn bị thành lập trường Đại học Hùng Vương với mục tiêu góp phần xây dựng đại học vừa mang tính Việt Nam, vừa mang tính hiện đại, và thành lập Trung tâm Nghiên cứu Văn Hóa Việt Nam, tôi đã phỏng vấn nhiều người như GS. Nguyễn Đăng Thục về “Tư tưởng Việt Nam” khẳng định truyền thống không duy của Việt Nam trong đó có tam giáo đồng nguyên và Bác Khê về “Những độc đáo của âm nhạc truyền thống Việt Nam”.

Không ngờ đây là lần đầu tiên, Bác nói bị rút ruột nói ra hết và cuốn băng phỏng vấn được Bác gửi cho nhiều người trong đó có ông Nguyễn Tấn Đời ở Canada đã rất thích thú và sang ra hàng chục cuốn gửi tới các bạn bè. Cũng vì thế mà sau năm 1997 tổ chức hội nghị Khoa học “Bản sắc Việt Nam trong ăn uống” tại Khách sạn Majestic, năm 1998 tôi đứng ra tổ chức hội thảo khoa học “Bản sắc Việt Nam trong Âm nhạc” cũng tại Khách sạn Majestic, mời Bác từ Paris về dự. Tại hội thảo này, Bác Ngô Gia Hy, hiệu trưởng trường Đại học Hùng Vương đã phát biểu rằng “quyết tâm đem dân ca vào trường Đại học Hùng Vương” và năm sau đã mời Bác về dạy âm nhạc truyền thống ở Khoa Du lịch mà Bác nói rằng đây là “lần đầu tiên bác dạy âm nhạc dân tộc cho sinh viên Việt Nam, bằng tiếng Việt Nam tại đất nước Việt Nam” sau mấy chục năm bôn ba nước ngoài, "chỉ dạy cho sinh viên nươc ngoài mà thôi!" Và cũng năm 2000, trường Đại học Hùng Vương đã quyết định thành lập CLB Ca trù Đại học Hùng Vương, sinh hoạt tại ngay nhà riêng của tôi, sau này đổi thành CLB Ca trù & Hát thơ Lạc Việt.

Phải nói ngay, tôi đã nhận ra Bác là người đầu tiên với kiến thức uyên bác, dùng phương pháp đối chiếu, so sánh, nghiên cứu, tìm ra những độc đáo của văn hóa Việt Nam, âm nhạc truyền thống Việt Nam mà người ta thường coi thường do người mình có thói quen nghĩ ”Bụt nhà không thiêng”, “Nôm na là cha mách qué”!

Phải thú thực, Tôi đã học hỏi ở Bác về phương pháp nghiên cứu đối chiếu, so sánh này khi nghiên cứu về văn hóa ẩm thực, văn hóa thi ca, văn hóa tín ngưỡng thờ Quốc tổ, anh hùng dân tộc, tổ tiên của Việt Nam để tìm ra những nét độc đáo đáng tự hào của dân tộc Việt Nam.

Ngay năm 1992, khi tôi làm phim Thăng Long Hà Nội xưa, tôi thấy ngay từ thời Lý đã có đền Vệ Quốc, thờ người có công bảo vệ đất nước thì các thế hệ sau này mới có biết bao anh hùng dân tộc mà không dễ nước nào cũng có nhiều đến thế và thờ thần Trống đồng mới thấy Việt Nam có nền văn hóa trống đồng rực sáng đến thế so với các nước khác. Cũng như với đền Hai Bà Trưng, bà Triệu cùng các nữ tướng được thờ rất nhiều, trong khi khó có nước nào có được như thế khiến tôi thấy nhiều cái nhất thế giới của người phụ nữ Việt Nam, rất đáng tự hào…

Khi tôi tổ chức Bác nói chuyện tại làng Du lịch Bình Quới, ngay tại trên khấu có người hỏi về “Chương trình Hát thơ” của tôi đang khởi xướng, Bác đã trả lời rằng “Hát thơ là một sáng tạo tuyệt vời nếu được quần chúng hưởng ứng”. Hồi ấy báo chí trong đó có báo Thanh Niên và Tuổi Trẻ có đưa tin. Hãng phim Truyền hình Thành phố có làm phim “Hát thơ thời mới”. Tôi đã khởi xướng “Chương trình đem hát thơ vào trường học”, tức là thơ các em học sinh đang học được hát với các làn điệu dân ca, ca cổ ba miền, minh họa những vần thơ đang được học, nhất là khi chưa cải cách, các lớp đều học rất nhiều thơ lục bát dễ hát dân ca. Đã có một đề tài nghiên cứu tại Sở Khoa học & Công nghệ Tp.HCM “Hát thơ tại trường học” mà tôi làm cố vấn, song vì thay đổi chủ nhiệm, tôi lại thôi. Tôi đã từng tổ chức hàng chục buổi “Hát thơ Kiều” và Phương Nam Phim đã phát hành dĩa gồm 2 CD Hát thơ Kiều với hơn 30 làn điệu dân ca ba miền. Rồi tiếp nhiều buổi hát thơ “Lục Vân Tiên", “Chinh Phụ Ngâm”... Hiện nay cũng có nhóm hát thơ giao lưu văn hóa ASEAN. Đặc biệt với tính cách Chủ nhiệm CLB Âm nhạc Dân tộc Hương Sắc Ba Miền của Trung tâm Văn hóa Tp.HCM, tôi và NSƯT Hồng Vân đã đến các trường trong đó trường Đức Trí dạy hát dân ca và đã làm nhiều băng đĩa học hát dân ca, hát thơ trong đó co đĩa học hát dân ca ba miền “Việc nhỏ chuyện lớn” với nội dung “Nhặt rác cho người mới quăng”, “xếp hàng nơi công cộng” hay thuyết phục người lớn giữ vệ sinh an toàn thực phẩm, nhất là từ bỏ việc “bán những gì không ăn, ăn những gì không bán” để quảng bá văn minh, văn hóa đô thị tại Việt Nam, để cứu người mình khỏi ăn đồ ăn độc hại…

Khi tôi tổ chức hội thảo khao học ”Ẩm thực trị liệu” và “Tiệc cưới, tiệc đãi quốc khách Việt Nam” tại Khách sạn Kỳ Hòa năm 1999, Bác tham dự và từ đây Bác nói nhiều về ẩm thực Việt Nam mà nhiều người rất lấy làm thích thú khi so sánh với ẩm thực của các nước khác.

Cò thể Bác và tôi có duyên với nhau về văn hóa Việt Nam, nên khi VTV9 làm phim về tôi “Một đời gìn giữ hồn Việt”, phỏng vấn Bác, đã phát biểu:

“… đặc biệt về ẩm thực là một trong những chuyên gia mà từ lý thuyết cũng như thực hành mà tôi tâm đắc về mọi mặt. Kể ra tôi về đây chưa thấy có người thứ hai tâm đắc như thế!.. “

Có thể chính vì Bác quá thương nên quá khen như thế! Song có thể Bác và tôi giống nhau ở điểm chính là người thầy từ thế kỷ XX, đã cố hết sức mình truyền lửa cho giới trẻ thế kỷ XXI để trong tương lai giới trẻ phải rất tự hào về lịch sử, văn hóa Việt Nam, mà cố sức đóng góp xây dựng đất nước hùng cường, không còn bị xử ép, làm nhục như hiện nay ở Biển Đông nữa!

Vừa qua “Nhóm Xuất bản sách Thái Hà” ấn hành cuốn sách “Tôi tự hào là người Việt Nam”, tôi đã viết bài “Tôi tự hào về lịch sử văn hóa Việt Nam” và tôi có hứa sẽ viết bài “Những gì xấu xí của người Việt” và tự hứa viết cuốn sách “Người Việt xấu xí” để người Việt mình bừng tỉnh, tích cực yêu nước trong xây dựng!

Tôi hiện cũng đang tập trung viết tác phẩm “Khoa cử Nho học dưới thời Pháp thuộc” để “ôn cố tri tân”, tìm xem những bài học lịch sử nào về giáo dục của người xưa nhất là giáo dục làm người ra sao, thấy được chân dung người thầy Nho học đã ảnh hưởng tới chân dung người thầy thế kỷ XX thế nào.

Cũng vừa qua nhân ngày Giỗ ĐứcThánh Trần, 20 tháng 8 ÂL, tôi có phổ biến bài viết "Trần Hưng Đạo - vị tướng soái ba lần chiến thắng quân Nguyên Mông được tôn thờ như vị thánh" và Kinh chúc Phúc (1 trong 12 hiền kinh Quốc đạo) và yêu cầu bài viết này có nhiều thông điệp về những bài học lịch sử cho người Việt Nam cũng như với người Trung Quốc. Những bài học lịch sử ấy rất cần được bàn bạc, trao đổi để mọi người kể cả giới lãnh đạo chính trị cũng như người Việt trong và ngoài nước thấm thía và có hành động đúng trước tình hình có quá nhiều nguy cơ như hiện nay. Tôi đề nghị trong mục Đối thoại nên nêu vấn đề này nhân Ngày Giỗ Đức Thánh Trần. Theo tôi, những vấn đề sau đây ta nên bàn bạc:

1/ Chúng ta, người Việt Nam ở trong và ngoài nước kể cả lãnh đạo chính trị, nên tìm hiểu Trần Hưng Đạo đã để lại những bài học lịch sử quý giá nào? Bài học nào là quý giá nhất đối với từng đối tượng.

2/ Với từng bài học quý giá ấy cho từng đối tượng, liệu từng đối tượng có thể làm những gì cụ thể để cho tình hình ở Việt Nam cũng như ở Biển Đông tốt đẹp hơn cho mọi phía. Theo tôi biết lịch sử để hiểu hiện tại và dự báo tương lai.

Tôi xin kính tặng Bác “Mười hai bài Hát nói Quốc đạo” do Tôi viết đã được Nhóm Ca trù Thái Hà hát cùng hơn 10 bài viết trong mục “Giữ hồn Dân tộc” của Báo Thanh Niên từ ngày 1 tháng 1 năm 2013 và 10 bài “Hát thơ Quốc đạo”, 12 hiền kinh Quốc đạo (Thập nhị hiền kinh) do tôi và nhà thơ Mai Trinh sáng tác đã được Nhóm NSUT Thanh Ngoan hát với các làn điệu dân ca.

Thư bất tận ngôn, mong được Bác chia sẻ.

Thân kính,

Nguyễn Nhã

http://www.hannguyennguyennha.com/giao-duc/chan-dung-nguoi-thay/193-thu-gui-giao-su-tran-van-khe

Thursday, January 16, 2014

Điếu văn: Khóc giáo sư Nguyễn Chung Tú

Toàn văn bài điếu văn do của Tiến sĩ Sử học Hãn Nguyên Nguyễn Nhã đọc trong đám tang GS.TSKH. Nguyễn Chung Tú ngày 15/01/2014.

GS Nguyễn Chung Tú kính mến,

Nhớ GS xưa sống hết mình, hiền hòa qua bao thời đại lịch sử thăng trầm, luôn được người đời, mọi chính quyền quý trọng, là tấm gương sáng cho đời về học và dạy học, tấm gương sáng về một người thầy của thế kỷ XX.

Năm 1946, mới 24 tuổi, GS đã đậu cử nhân Toán lý Hóa tại Đại Học Hà Nội; hai năm sau, năm 1948, GS lấy bằng cử nhân Vật lý tại trường đại học danh tiếng Sorbonne ở Paris. Mười hai năm sau, năm 1960, GS lấy bằng Tiến sĩ Quốc gia tại Đại Học Rennes (Pháp) hạng tối danh dự.

Với tài học như vậy, GS vẫn quyết về quê hương, đóng góp nhiều công sức xây dựng Khoa vật lý cũng như trường Khoa học thuộc Viện Đại học Sài Gòn, sau là trường Đại học Khoa học Tự nhiên Tp. HCM, đào tạo biết bao thế hệ học trò thành đạt  về khoa học tự nhiên, về vật lý…

Với kinh nghiệm chuyền môn về  giảng dạy và quản lý mà GS từng làm Trưởng Ban Vật lý rồi phó khoa, khoa trưởng tức hiệu trưởng trường Đại học Khoa học (1965-1973), để lại cho đời hơn 30 đầu sách và nhiều bài viết trên báo, tạp chí. Sau khi về hưu, GS còn tham gia sáng lập trường Đại học Tư thục Hùng Vương.

Tôi còn nhớ như in khi nhà nước Ban hành Quy chế chính thức đại học tư thục năm 1993, ba chúng tôi là GS Ngô Gia Hy, Võ sư Trần Huy Phong và tôi kết nghĩa “Vườn đào” quyết tâm thành lập một trường đại học tư mà trước năm 1975 chúng tôi đã có dự án thành lập đại học tư còn đang dang dở, ba chúng tôi đã nhất trí mời GS  là một trong người đầu tiên trong 9 người tham gia sáng lập mà Công ty  CP Tin học Lạc Việt là tổ chức bảo trợ xin thành lập Trường.

Với uy tín rất lớn và kinh nghiệm chuyên môn cao, quản lý trường đại học, GS đã nhận chức Hiệu phó thứ nhất lo về đào tạo, đã đóng góp lớn lao về chất lượng đầu vào và đầu ra nhất là những khóa đầu tiên của Trường vào trường nắm 1995, 1996, 1997, 1998, 1999…

Chỉ tiếc rằng việc đào tạo theo tôn chỉ bất vụ lợi mà chỉ duy nhất là Trường Đại học Hùng Vương, những người sáng lập trong đó có GS quyết tâm không cổ phần hóa, thương mại hóa như một công ty, nhất định không chia lời, không hoàn vốn đóng góp ban đầu, nhất định lấy chất lượng làm đầu, lại không còn tiếp tục như thưở ban đầu, trong đó có GS và chúng tôi không thể tiếp tục tham gia.

Bác Tú ơi, Bác mất đi, gia đình mất đi người cha, người ông nhân hậu; bạn bè mất đi người bạn hiền khả kính; những người thân, những học trò mất đi một vị trưởng thượng, người thầy uy tín, đáng phục, chân tình; xã hội mất đi một nhà sư phạm có tầm nhìn xa trông rộng.

Trong giờ phút âm dương đôi ngả, xin được khóc Bác, cầu chúc hương hồn Bác sớm tiêu diêu miền cực lạc, xin chân thành chia buồn cùng tang quyến.

 Vĩnh biệt Bác,

 Ô hô thượng hưởng

Thay mặt các thành viên sáng lập

Hãn Nguyên Nguyễn Nhã, tiến sĩ sử học

(Nguyên Ủy viên thường trực Hội đồng Sáng lập trường, đại diện Thành phần Sáng lập trường trong Hội đồng Quản trị Nhiệm kỳ 2 của Trường Đại học Hùng Vương)

 Nguồn: http://www.hannguyennguyennha.com/giao-duc/64-dieu-van-khoc-giao-su-nguyen-chung-tu

Wednesday, April 17, 2013

Thư ngỏ của Tiến sĩ Nguyễn Nhã về sự kế tục lãnh đạo của Đại học Hùng Vương (TP. Hồ Chí Minh)

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 18 tháng 4 năm 2013.

Đối với nhà sáng lập và tài trợ - đã cùng bao thế hệ thầy cô, sinh viên chúng ta dày công vun đắp cho nhà trường một truyền thống; cùng nuôi dưỡng những ước mơ về một môi trường giáo dục đích thực, chân chính mà chỉ có trong môi trường giáo dục như thế, một trường đại học như thế thì các thế hệ trí thức, nhân tài mới thực sự được phát sinh và có được lòng nhiệt thành xây dựng cộng đồng, đất nước, tôn trọng nền tảng văn hóa  lịch sử dân tộc và con người.

Các nhà sáng lập và tài trợ ban đầu trong đó có tôi luôn quyết tâm thực hiện tôn chỉ giáo dục, lấy chất lượng đào tạo làm đầu, không chạy theo số lượng. Các thầy cô vì nhiệt tình giáo dục luôn chú trọng nâng cao chuyên môn, chuyên ngành cho chính đơn vị và đào tạo học trò có được đầy đủ tri thức, gánh vác được trách nhiệm tương lai, đồng thời duy trì những giá trị truyền thống nhân văn trong bổn phận, nghĩa vụ và trách nhiệm lâu dài. Thế nên - con người mới được trưởng thành trong môi trường như vậy.

Tiếc thay! Trong hoàn cảnh lịch sử của đất nước lúc đó rất dễ tạo ra sự hiểu lầm thiện chí của những người sáng lập, chủ đầu tư ban đầu; một số người vì lợi ích cá nhân và ham muốn thể hiện danh tiếng, quyền lực đã cố tình làm hoen mờ những giá trị truyền thống, dẫn đến những quyết định sai lầm loại bỏ những người sáng lập, chủ đầu tư ban đầu và tổ chức bảo trợ thành lập trường là Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt.

Bất cứ một tổ chức nào cũng có gốc có nguồn, có thủy có chung, có trật tự có trên có dưới, có trước có sau. Phủ định nguồn gốc, loại bỏ những người sáng lập, chủ đầu tư ban đầu của trường tưởng như áp đặt hành chính dễ dàng. Song những hậu quả vô cùng tai hại trong thời gian vừa qua đã ảnh hưởng rất rõ đến sự tồn vong, phát triển của một trường đại học do một nhóm trí thức tâm huyết, có năng lực ước mơ xây dựng một đại học vừa mang tính Việt Nam, vừa mang tính hiện đại, sánh vai với các đại học tiên tiến trên thế giới, trước hết với các đại học trong khu vực Đông Nam Á.

Thời gian đã đủ dài trong hoàn cảnh lịch sử đất nước không ngừng đổi mới; đủ chứng tỏ mọi việc làm trong sáng, hoàn toàn vô vị lợi cá nhân; đủ chứng tỏ năng lực và khả năng đóng góp không mệt mỏi cho xã hội; cũng không còn nghi ngờ gì nữa về thiện chí yêu đất nước của những người sáng lập, chủ đầu tư ban đầu như tôi, nên tiếng nói chung ở trường là kêu gọi công nhận sai lầm, mời gọi nhà sáng lập, chủ đầu tư ban đầu trở về trường, trả lại trường cho nhà sáng lập, chủ đầu tư ban đầu, tổ chức bảo trợ xin thành lập trường trong đó có tôi, Kỹ sư Hà Bính Thân, Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt. Chúng tôi rất hoan nghênh thiện chí này của mọi người đã có tiếng nói và hành động cụ thể.

Chúng tôi cũng rất hoan nghênh bất cứ ai đã từng biết đến ttường Đại học Hùng Vương trong thời gian vừa qua chia sẻ thiện chí đó.

Tiếp xúc các bạn vừa là học trò, đồng thời cũng đang giữ trọng trách Bí thư, Phó Bí thư, Chủ tịch Hội Sinh viên trường đến thăm viếng, mong tôi quan tâm đến trường, tôi đã nói một cách thân mật rằng:

“Tôi luôn có hai mối quan tâm: một là sứ mạng, tôn chỉ, mục tiêu giáo dục, chủ trương của trường đã thực hiện tới đâu mà tôi nhất định bảo vệ đến kỳ cùng và quan tâm đến sinh viên, nhất là tương lai của hơn 10.000 sinh viên đã tốt nghiệp sẽ bị  ảnh hưởng do gốc gác tốt nghiệp từ một trường không ra gì hay trường không còn tồn tại. Tôi cho đó là một tội ác nếu để ảnh hưởng đến tương lai của sinh viên như thế!"

Chính vì vậy, tôi quyết định lấy ngày truyền thống trường cũng là kỷ niệm ngày ra mắt Đoàn trường, ngày 9 tháng 3 âm lịch, năm 1996, công bố băng Ghi âm Di chúc của GS. Ngô Gia Hy về sự thừa kế lãnh đạo bền vững của trường Đại học Hùng Vương với hơn 10.000 sinh viên đã tốt nghiệp và hàng ngàn sinh viện đang theo học tại trường.

GS. Ngô Gia Hy từng nói: "Trường này là của thầy và trò; dĩ  nhiên phải là thầy và trò chia sẻ, thấm nhuần sứ mạng, tôn chỉ bất vụ lợi, mục tiêu, chủ trương giáo dục của trường."

Tôi kêu gọi tất cả thầy cô, tất cả sinh viên  đã và đang theo học tại trường quyết tâm đấu tranh để tất cả mọi người làm theo Di chúc của GS. Ngô Gia Hy để trường tồn tại và phát triển như ước mơ của những người sáng lập, chủ đầu tư ban đầu của trường.

Cũng như tinh thần của lời Di chúc của GS. Ngô Gia Hy, phải có tinh thần bao dung, bỏ qua những sai lầm của nhau, cùng nhau xây dựng phát triển trường, không còn tụt hậu như hiện nay và sẽ thành trường như ước mơ cũa những nhà sáng lập, chủ đầu tư ban đầu.

Cũng theo lời Di chúc của GS Ngô Gia Hy tất cả những ai không còn chia sẻ sứ mạng, tôn chỉ bất vụ lợi, mục tiêu, chủ trương giáo dục của nhà sáng lập, nhà đầu tư ban đầu hãy tự xử hoặc đi thành lập một trường khác theo ý của mình hoặc không còn tồn tại ở trường này nữa.

Tôi vốn đang theo đuổi sự nghiệp “Đại hòa Dân tộc Thế kỷ XXI”, đang chủ trương xây dựng chương trình "Ngàn thanh niên thế kỷ XXI” mỗi người một kế hoạch nhỏ xây dựng nội lực đất nước hùng cường trở thành cường quốc biển trong tương lai để không còn bị xử ép, bị làm nhục ở Biển Đông.

Nhân ngày Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương, vừa được UNESCO công nhận là tín ngưỡng di sản quý giá của nhân loại, cũng như nhân ngày truyền thống của trường xin tặng quý thầy cô và sinh viên, cựu sinh viên Tập thơ Quốc đạo gồm "Thập nhị Hiền kinh Quốc đạo", "Ca trù Quốc đạo", "Hát thơ Quốc đạo", "Gia huấn ca", "Tình yêu là gì?"... đã được các nghệ sĩ tài danh hát, một phần đã đưa lên mạng (tìm từ khóa: Ca trù hát thơ 2012, 2013...) để phần nào thấy tâm nguyện của tôi.

Hãy nhìn sang các quốc gia khu vực cũng như Nhật Bản, Nam Hàn, Đức... họ đã thể hiện những năng lực tri thức, văn hoá nào để vươn lên từ những chua cay trong ảnh hưởng từ chiến cuộc thế giới vừa qua? Việt Nam chúng ta nhất định phải vươn lên, trước hết từ giáo dục, trong đó có trường thân yêu của chúng ta: Đại Học Hùng Vương - TP.HCM.

Cũng trong buổi lễ long trọng hôm nay, riêng các nhà sáng lập và tài trợ chúng tôi chân thành ghi nhận sự đấu tranh, nhân thức quý báu của quý thầy cô, cán bộ nhân viên trong trường, suy nghĩ đúng đắn của các sinh viên các khoa đã và đang theo học… đã vượt qua những khó khăn và nhất là duy trì được sự ổn định tốt nhất trọng tâm giáo dục của trường.

Chính sự đấu tranh kiên cường ấy, đã càng tô đậm cho lịch sử hình thành cuả trường và làm sáng tỏ tôn chỉ bất vụ lợi, không chấp nhận thương mại hóa giáo dục.

Kính chúc các bạn sinh viên cũng như các bạn cựu sinh viên luôn đạt được những thành công.

Kính chúc quý thầy cô, cán bộ nhân viên nhà trường, các vị lãnh đạo thiện chí ở các khoa, phòng, đơn vị, tổ chức trong nhà trường luôn khang an, hạnh phúc.

Chân thành cảm ơn Ban tổ chức ngày truyền thống đã cho tôi những cảm xúc ấm nồng tình nhà, tình trường trong ngày truyền thống trường Đại học Hùng Vương, Tp. Hồ Chí Minh.

Trân trọng kính chào,                                                                                

Hãn Nguyên Nguyễn Nhã, Tiến sĩ Sử học.

Nguyên Ủy viên Thường trực Hội đồng Sáng lập,

Nguyên đại diện thành phần sáng lập trong Hội đồng Quản trị Nhiệm kỳ 2 (Đại học Hùng Vương).






Monday, March 26, 2012

Các biện pháp cụ thể nâng cao chất lượng đào tạo

* Bài viết của TS. Nguyễn Nhã in trong Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Nâng cao Chất lượng Đại học tháng 6/1997.

I. Vài hiện tượng về thực trạng chất lượng đào tạo tại Đại Học Việt Nam:

Chất lượng đào tạo phù thuộc vào các yếu tố: Thầày, trò (đầu vào), phương tiện dạy học, cơ sở vật chất, chương trình và quản trị. Tùy theo cách nhìn, mỗi người coi yếu tố quan trọng hàng đầu có khác nhau.

Để có cơ sở khoa học, chúng ta phải căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể của các đại học Việt Nam, dĩ nhiên, giữa đại học công và đại học dân lập có sự khác biệt. Thực tế hiện nay ở nước ta, các đại học công có rất nhiều ưu thế về trường sở rộng rãi, khang trang, song phương tiện dạy học rất yếu do cách quản lý chưa tốt. Các đại học công có ưu thế về thu hút hầu hết trò giỏi ở phổ thông, vì các đại học dân lập chưa có đủ thời gian để tạo uy tín cho các học trò giỏi phổ thông tin cậy. Tuy nhiên, các học trò giỏi ở phổ thông chưa chắc đã xuất sắc ở đại học, song dễ dàng trở thành sinh viên học khá. Do chất lượng học tập ở phổ thông kiến thức tổng quát còn nhiều lỗ hổng, chất lượng thấp, hầu hết các học sinh, kể cả học sinh giỏi học theo lối học đối phó, ít có lòng say mê tìm tòi, học hỏi, chưa có thói quen đọc sách, càng không có khả năng đọc sách ngoại văn. Ở phổ thông, học sinh được sự hỗ trợ của phụ huynh, luôn thích học thêm nhiều thầy (học chạy sô), học sinh lười suy nghĩ, sáng tạo, thích học những mánh lới, hoặc đáp án của môn học, rất ít thời giờ tự học, tự tìm tòi, khám phá, luôn có kế hoạch ôn tập (giới hạn chương trình và đề thi ôn tập, một hình thức học tủ với đáp án có sẵn). Lên đại học, cung cách học tập ít thay đổi, sinh viên rất thích thi nhiều trường, học nhiều trường, học loáng thoáng, không chuyên sâu cũng không định hướng rõ ràng, không say mê học một môn gì. Thậm chí, hầu hết học sinh, kể cả học sinh giỏi, gần như kiệt sức cố công thi tuyển vào đại học, thi thật nhiều trường, đến khi đậu vào đại học, có tâm lý nghỉ xả hơi, không còn miệt mài học như ở phổ thông nữa. Sinh viên năm đầu hầu như ít nhiệt tình học, đáp ứng các yêu cầu học tập, nghiên cứu cao của một số các thày giỏi. Hầu hết các học sinh có học lực trung bình thường có phẩm chất rất kém, sẽ là gánh nặng lớn, nếu vì lý do nào đó đậu vào đại học. Hầu hết học sinh phổ thông đều coi thường các môn phụ nhất là các môn khoa học xã hội. Năm 1987, khoa Sử trường Cao đẳng Sư phạm có tới 20 thí sinh trúng tuyển với điểm Sử 1,5. Từ nhiều năm nay, số thí sinh thi môn Sử vào Đại học Sư phạm Tp.HCM chưa bao giờ đạt số điểm từ 5/10 trở lên. Hiện tượng quay cóp gần như phổ biến, rất tự nhiên. Một sinh viên vốn là học sinh trường điểm (trường Lê Hồng Phong) đang học một đại học, tâm sự rằng có bạn trong lớp của trường phổ thông là người lẻ loi không chịu quay cóp; bị hỏi tại sao mọi người quay cóp mà bạn lại không quay. Có một sinh viên học giỏi đã khoe với bạn đã “nghĩa hiệp” thi hộ bạn ở một trường khác. Và cũng có một sinh viên tiết lộ, tại lớp có hiện tượng thi hộ, chính một người nói, một sinh viên quên thẻ sinh viên ở nhà là người rất xa lạ với lớp, đã được phép thi “hộ”. Một số môn thi cho dùng tài liệu lại là giờ thi nghiêm túc, ít coi lẫn nhau. Tôi đã được chứng kiến trong một buổi thi ở học kỳ I, năm 1995-1996, hai giám thị đã không ngớt phát hiện sinh viên quay cóp, trong đó có cả cán bộ lớp.

Hiện nay, các thầy dạy giỏi chưa nhiều, có hiện tượng dạy rất nhiều trường. Nhiều người cho rằng ai dạy nhiều trường như một bằng chứng sáng giá. Các thầy dạy trường đại học công lập chưa được đảm bảo cuộc sống, nên phải tự giải quyết cuộc sống bằng nhiều cách, trong đó có cách dạy thêm các trường đại học dân lập, các trung tâm. Dĩ nhiên, những người ít khả năng hay ít quen biết, khó dạy nhiều trường, song người dạy nhiều trường chưa chắc đã là thầy dạy giỏi. Thế nào là một thầy cô dạy giỏi ở đại học thì thực tế hiện nay khó mà xác định. Tại các đại học tiên tiến trên thế giới, các thầy dạy giỏi, trước hết, phải là những người có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị. Các thầy ấy là gương sáng về nghiên cứu và sáng tạo, suy nghĩ độc lập để cho sinh viên noi theo, chính bề dày về nghiên cứu, sáng tạo, suy nghĩ độc lập tạo nên uy lực buộc sinh viên phải làm theo yêu cầu của người thầy. Người thầy dạy giỏi có phương pháp hướng dẫn khiến sinh viên biết tự học, tự nghiên cứu, độc lập suy nghĩ và sáng tạo. Có hiện tượng không ít các thầy vẫn theo thói quen ở trường công dạy ôn tập (giới hạn chương trình, một hình thức học tủ), cách dạy như trung học phổ thông. Và do dạy nhiều trường, các thầy giỏi không có thì giờ ra bài tập, gần như rất hiếm các thầy biết trình độ học tập và sự chuyên cần của sinh viên trước khi thi cuối học phần để theo dõi, hướng dẫn sinh viên, nhất là các sinh viên học giỏi hay học yếu.

Tuy các trường đại học dân lập nỗ lực trang bị hiện đại (máy overhead, phim video), song các thầy vẫn chưa tích cực sử dụng và thư viện tuy cố gắng vẫn chưa đáp ứng vì cơ sở chật chội hoặc chưa đủ tiền mua sắm đủ sách báo, chưa kể thầy và trò chưa thật chuyển về việc tự học, tự nghiên cứu.

Chương trình đào tạo các đại học hiện nay, chủ yếu theo chương trình của Bộ, tuy các đại học dân lập có cố gắng xây dựng phần riêng của mình, song hiện nay, chưa có ai thử so sánh chương trình đào tạo tại các đại học Việt Nam với chương trình đào tạo tại các đại học tiên tiến trên thế giới. Đấy là chưa kể chúng ta thiếu hẳn những chuyên viên đội ngũ quản lý và giảng dạy, cập nhật hóa kiến thức của mình so với những tiến bộ hiện nay của thế giới.

Với thực trạng trên cho chúng ta kết luận chưa thể yên tâm về chất lượng đào tạo hiện nay của các đại học ở Việt Nam trong đó có các trường dân lập.

II. Những biện pháp cụ thể nâng cao chất lượng đào tạo tại đại học:

Cần phải có nhiều biện pháp cụ thể, và từng bước thực hiện như sau:

1. Về đầu vào của sinh viên:

Nên nhớ, bất cứ đại học nổi tiếng chất lượng cao trên thế giới đều có chính sách tuyển chọn những sinh viên hết sức kỹ càng, với tiêu chuẩn điểm cao một số các môn ở phổ thông và các trường “college”, hoặc căn cứ trên điểm cao trong kỳ thi, và cũng qua những cuộc tiếp xúc phỏng vấn hay viết tự thuật, thí dụ Applicant Essay của Nguyễn Thị Thanh Trúc (tài liệu 1 đính kèm Kỷ yếu) cho trường Nha, cho biết hoài bão, thành tích và một số khả năng của sinh viên. Các trường dân lập không hy vọng trong những năm đầu tiên thu hút những học sinh giỏi phổ thông của thành phố, song có thể vận động con em những thân hữu hay qua các sinh viên hiện đang học tại trường hoặc vận động tại các trường phổ thông ở các tỉnh, ngoài ra, cách ra đề thi chủ yếu loại những học sinh trình độ tiếp thu thấp, không có khả năng tư duy, không có độc lập suy nghĩ. Tóm lại:

- Vận động thu hút học sinh giỏi (con em thân hữu hay học sinh giỏi các tỉnh).
- Đề thi phát hiện trình độ tiếp thu tốt, độc lập suy nghĩ.
- Phỏng vấn, xét học bạ, bài tự thuật để cứu xét trường hợp vớt (song có tác dụng cụ thể khuyến khích, tạo uy tín cho trường).
- Số lượng đầu vào trong những năm đầu chưa nên nhiều. Càng ít thì chất lượng càng bảo đảm.

2. Đối với thầy nên có chính sách đãi ngộ và mời thầy dạy giỏi.

Cơ chế đại học dân lập cho phép có quyền lựa chọn thầy dạy giỏi. Thầy nào không đạt yêu cầu, có thể không để tiếp tục dạy nữa. Muốn thực hiện chính sách này nên có một cơ chế tuyển dụng hay mời thầy một cách khách quan. Tránh tình trạng vì phe nhóm, quen biết, ảnh hưởng đến chất lượng một cách lâu dài. Không nên để sự quyết định mời hay tuyển dụng nơi một người dù là Khoa Trưởng hay Hiệu Trưởng. Nên có kế hoạch “tầm sư” một cách hiệu quả. Nên có những tiêu chuẩn, yêu cầu rõ ràng. Các thầy Khoa Trưởng có chức năng đề nghị, sau đó một ban đứng đầu là Hiệu Trưởng, cứu xét từng trường hợp, nếu thấy đủ tiêu chuẩn yêu cầu thì chấp nhận. Bộ phận đào tạo phải theo dõi các thầy xem ai hiệu quả, đạt yêu cầu, để sàng lọc. Ngoài tiền thù lao giờ dạy cao để thu hút thầy dạy giỏi, cần có chính sách ân nghĩa, khiến các thầy giỏi không thể bỏ trường, phải tính đến thâm niên dạy cho trường, chứ không tính thâm niên trong ngành giáo dục, để tính tiền thâm niên hoặc các quyền lợi khác như chế độ hưu trí, nghỉ mát, tham quan, quan sát, bồi dưỡng trong và ngoài nước. Hiện nay, các trường dân lập nên tranh thủ các thầy giỏi sắp hay đang về hưu trí, đồng thời, từng bước xây dựng đội ngũ trẻ không có biên chế ở đại học công mà ở các công ty hay các viện nghiên cứu.

Ngoài bộ phận theo dõi ở Phòng Đào tTạo, Ban Chủ nhiệm Khoa nên có chương trình thăm dò sinh viên một cách khách quan bằng bảng câu hỏi. Bảng câu hỏi này không để tên sinh viên, có thể chỉ để cho thầy biết mà thôi (xem mẫu tài liệu 2 và tài liệu 3 đính kèm Kỷ yếu).

3. Tổ chức kiểm tra thi cử thật nghiêm ngặt, quản lý sinh viên chặt chẽ:

Đây là khâu quan trọng có tính quyết định vào bậc nhất về chất lượng đào tạo. Để tận diệt nạn quay cóp và thi hộ hiện nay, cần áp dụng các biện pháp sau đây:

a. Phòng đào tạo quản lý sinh viên, cùng các thầy dạy bộ môn hướng dẫn kỹ càng qui chế thi cử, kiểm tra, răn đe, kỷ luật nặng nề khi bắt gặp (áp dụng nghiêm khắc).
b. Sắp xếp phòng kiểm tra, thi rộng rãi (từ 1 đến 2 sinh viên ngồi một bàn, nên quay ngược hộc bàn nếu có thể được).
c. Cắt cử người có nghiệp vụ, từng là giáo viên mới làm giám thị (nếu cần nhờ giáo viên phổ thông có kinh nghiệm coi thi).
d. Khi bắt gặp, cần lập biên bản và xử lý nghiêm khắc.

Nhân viên quản lý sinh viên của trường, của khoa, phân công theo dõi, biết mặt biết tên từng sinh viên, phát hiện tức thì trường hợp thi hộ. Nên kiểm tra hình ảnh những trường hợp nghi ngờ, chụp hình trong kỳ thi tuyển sinh.

Có thể ra đề đòi hỏi khả năng tư duy, hệ thống và nghe giảng trên lớp. Cho sử dụng tài liệu, có lớp từ 60% đến 70% không đạt yêu cầu.

4. Cải tiến phương pháp dạy học:

a. Vận động đổi mới phương pháp dạy học:

Hội đồng Khoa học hay Ban Giáo hiệu cần phổ biến những yêu cầu mới thay đổi phương pháp:
Bãi bỏ việc ra đề ôn tập, thi kiểm tra (giới hạn chương trình học tủ).
Bãi bỏ phương pháp đọc chép.
Trước khi dạy, yêu cầu các thầy làm đề cương môn học (mẫu tài liệu 4 và 5 đính kèm Kỷ yếu) nộp cho Phòng Đào tạo.
Đề cương này được thầy phổ biến trong buổi học đầu tiên (ngoài giáo trình, ít nhất có 2 tài liệu tham khảo chính bắt buộc sinh viên phải tham khảo có thể 1 tài liệu bằng Anh ngữ).
Thống nhất phương pháp giảng bài trên lớp.
- Yêu cầu sinh viên đọc trước giáo trình, làm tóm tắt từng chương.
- Dành thời giờ trên lớp thầy và trò trao đổi, giải đáp các thắc mắc.
- Thầy chốt lại những vấn đề cốt lõi.
- Hướng dẫn, động viên sinh viên tự học, tự nghiên cứu, đọc sách báo, sử dụng thư viện, liên hệ thực tế.
Tổ chức học tập nhóm, làm bài tập nghiên cứu, chuyên đề.

b. Xây dựng thư viện trở thành trung tâm học tập của sinh viên:

Nên xây dựng thư viện theo mô hình hiện đại:
- Dễ dàng sử dụng đọc sách báo (kho mở hay bán mở).
- Đọc CD-ROM và tra cứu bằng vi tính và nối mạng giữa các thư viện trong nước và với nước ngoài trong tương lai.
Vận động sinh viên tích cực sử dụng thư viện có hiệu quả:
- Phát động phong trào đọc sách (thống kê hàng tháng số người, số lượt đọc sách các lớp), trao giải thưởng hay tuyên dương “kiện tướng đọc sách”.
- Tổ chức hội thảo giới thiệu sách đặc biệt, sách Anh ngữ.

c. Xây dựng các nhóm chất lượng (QC Team):

Các nhóm chất lượng sinh viên từ 3 đến 5 sinh viên được xây dựng với các nhóm "leader members" có kế hoạch phối hợp học tập nhóm, xây dựng tinh thần "teamwork".

5. Tạo động lực cho sinh viên:

a. Khen thưởng: Đòi khen thưởng là nhu cầu tự nhiên song phải khen thưởng đúng và cách khen thưởng phải có hiệu quả.

Thư khen của một trợ lý khoa (Associate Dean for Undergraduate Affairs) của trường Đại Học Irvine, California có nội dụng tác dụng rất cao đối với sự học tập của sinh viên. Sinh viên đạt điểm giỏi (3,5 đến 4) được xếp hạng danh dự (Honor List) của khoa.

- Đủ điều kiện trở thành người trợ giáo, dạy kèm (tutor).
- Đồng thời cho biết điện thoại chương trình trợ giáo, dạy kèm (Tutorial Assitance Program) cùng tên người phụ trách.
- Chương trình không những trả tiền bồi dưỡng (thường do trường trả) mà còn được tính tín chỉ (unit credit) trong chương trình đào tạo song không cộng điểm (xem tài liệu 6 đính kèm Kỷ yếu).

Các hình thức giấy khen hoặc cấp học bổng cũng là hình thức khen thưởng tạo động lực học tập tốt cho sinh viên.

Nên tạo điều kiện nhiều mặt thi đua để sinh viên nào cũng có “mặt” được khen thưởng.

b. Các hoạt động thực tế bộ môn, thực tập cọ sát với thực tế xã hội thấy rõ lợi ích của sự học hỏi trong tương lai.

Trong nền kinh tế thị trường, thành công trong học tập dẫn đến thành công ngoài xã hội, kiếm việc làm có hiệu quả kinh tế cao khiến thúc đẩy động lực học tập của sinh viên. Các hoạt động thực tế bộ môn như tham quan, điều tra nghiên cứu, làm việc bán thời gian, thực tập phụ việc... là phương thức rất hiệu quả tạo sự hứng thú học tập cũng như nhận thức rõ về lợi ích thực tế của các ngành học, môn học.

Các hoạt động Câu lạc bộ như Câu lạc bộ Cung ứng Việc làm (làm thêm hoặc cho sinh viên tốt nghiệp) do chính sinh viên chủ động đứng ra thực hiện, không những khiến sinh viên sớm trưởng thành mà còn tạo động lực học tập các ngành chuyên môn, cọ sát với thực tế ngoài xã hội.

6). Đổi mới quản lý, tăng cường hiệu quả đào tạo.

Trong thời kỳ đại học mới thành lập, qui mô còn nhỏ, nhu cầu tạo sự gắn bó với trường, cung cách “quản lý kiểu gia đình, gia trưởng” có thể còn tác dụng, tuy rất khó khăn, bởi hiện tượng “con yêu, con ghét” dễ xảy ra, hiệu quả quản lý sẽ không cao. Cung cách quản lý kiểu gia đình, qui mô nhỏ sẽ không còn thích hợp, thậm chí là cản trở sự phát triển hay tiến tới sự tiêu vong khi trường ở giai đoạn phát triển.

Cách quản lý cổ điển, quyết định áp đặt từ trên xuống dưới đã trở thành lỗi thời. Xu thế hiện nay, cách quản trị chất lượng đồng bộ (TQM) theo phương pháp Deming, lật ngược trở lại, mọi đề xuất phải từ dưới lên trên, phát huy tính chủ động, tích cực của nhân viên, cải tiến không ngừng, đã được Nhật áp dụng thành công và các nước khác trong đó các nước khối ASEAN đang vận dụng. Mọi người trong trường phải thông suốt đường lối (vision), mục tiêu (objectives) của trường và làm việc theo tinh thần đồng đội (teamwork).

Mỗi bộ phận trong trường, mỗi người, nhất là Ban Giám hiệu, Ban Chủ nhiệm Khoa đều phải có những qui định rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ quyền hạn, những gì quản lý cấp trường, những gì quản lý cấp khoa. Phải soạn qui chế luân lý chức nghiệp (code ethic) cho từng người, từng bộ phận một cách rành mạch.
Dần dần trường phải ổn định, tránh tình trạng bị động, đối phó.

Nhà trường cũng như từng bộ phận phải có kế hoạch chương trình cụ thể được sớm phổ biến rộng rãi, chẳng hạn kế hoạch thời khóa biểu với tên người giảng dạy đã được phổ biến trước khi tuyển sinh hay ghi danh (tài liệu 7 đính kèm Kỷ yếu).

Cần phải quan tâm đến tính chuyên môn của mỗi người khi bố trí việc làm, trừ trường hợp những chuyên môn lỗi thời cần thay thế. Sự thiếu chuyên môn sẽ đưa tới những sai lầm nghiêm trọng. Chuyên môn nghiệp vụ thi cử, kiểm tra, nghiệp vụ quản lý hồ sơ hành chánh sinh viên, nghiệp vụ quản lý dự án, chương trình nghiệp vụ thư viện, nghiệp vụ hướng dẫn khải đạo sinh viên và cả chuyên môn quản trị đại học. Cần phải có kế hoạch bồi dưỡng nhân sự, tự bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ.

Trên đây chỉ nêu ra một số biện pháp cụ thể về chấp lượng đào tạo.

Vấn đề không phải là biết mà là làm, và phải bắt đầu làm từ đâu, từ biện pháp nào, tùy theo hoàn cảnh cụ thể của mỗi trường. Mọi sự sao chép chưa hẳn đã thành công, song qui luật khách quan cũng rất nghiêm khắc, bất cứ ai sẵn sàng bị đào thải nếu bản thân mỗi người không đáp ứng./.

Sunday, March 25, 2012

Rèn luyện và nhân cách sinh viên

*Bài viết của GS.TS.Nguyễn Chung Tú in trong Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Sinh viên với vấn đề giáo dục và rèn luyện nhân cách, Đại học Hùng Vương, tháng 4/2001.

Giáo dục sinh viên ngày nay nên lấy vấn đề nhân cách là ưu tiên số 1, vì đó là cái thiếu thốn nhất hiện nay. Nhân cách là tính nết con người (Personnnalité), khiến ta có thể phân biêt con người này với con người khác. Nó gồm những ưu điểm của một người hay, cũng như những nhược điểm của một người dở.

Bắt đầu bằng một ưu diểm nhỏ nhoi, tưởng là trẻ con nhưng thực ra hậu quả của nó rất lớn. Mà trẻ con thật vì cha mẹ, thầy cô đòi hỏi ở một thiếu nhi từ khi mới cắp sách tới trường: ấy là sự đúng giờ (exactitude).

“Xuân đi học coi người hớn hở,
Gặp cậu Thu đi ở giữa đàng.
Hỏi rằng: “Sao đã vội vàng,
Trống chưa nghe đánh đến tràng làm chi”
Thu đáp lại: “Dẫu giờ còn sớm,
Cũng nên đi kẻo chậm làm sao?
Nếu chờ khi trống đánh vào,
Dẫu ta rảo bước tài nào kịp cho
Trễ giờ ta phải nên lo””.

Thủy Tinh ngày xưa tới trễ mà mất vợ. Huyền thoại này chính là một bài học về sự đúng giờ. Vua Louis XIV đã từng tuyên bố: "Đúng giờ là sự lễ phép của vua chúa”. Trong trận đánh cuối cùng của binh nghiệp Napoléon ở Waterloo, ngày đầu Napoléon thắng, nhưng hôm sau, quân Anh phản công và Napoléon có vẻ túng thế. Ông sai người mang thư gọi Grouchy đang đóng quân tại Đức về để cứu nguy gấp. Nhưng Grouchy về trễ quá, sau Blucher, tướng Đức. Sự thất trận này đưa Napoléon tới sự lưu đày ở đảo Sainte Hélène giữa Đại Tây Dương.

Ưu điểm thứ hai của một người hay là lao động đều đều (assiduité). Các cụ ngày xưa thường nói: “Trăm hay không bằng tay quen”; ngày nay người ta thường nói: “Hát hay không bằng hay hát”. Tục ngữ có câu: “Lưỡi cày để lâu không dùng sẽ bị hoen rỉ”. Những thi sĩ một thời vang bóng, khi còn là học sinh hay sinh viên , rồi bẵng đi một dạo "đàn treo vách" (theo cách nói của Thạc sĩ (agrégé) Sử Địa Phạm Huy Thông, đến khi cầm lại cây đàn thì "đàn cầm khéo ngẩn ngơ dây" (Kiều)). Các vận động viên bóng đá hằng ngày phải tập thể dục và tập… đá bóng! Các nghệ nhân trong rạp xiếc trước khi trình diễn với công chúng, phải tập luyện chương trình của mình hằng trăm lần. Pierre Boileau, nhà phê bình văn học, trong tác phẩm bất hủ từ ba trăm năm nay (l'Art poétique) căn dặn:

"Cent fois sur le métier, remettez votre ouvrage"
(Sửa đi sửa lại hàng trăm lần)

Nếu An Dương Vương ngày xưa ngày nào cũng xem cái nỏ thần của mình còn hay mất thì đâu đến nỗi khi giặc tới nơi mới biết nỏ thần đã biến mất. Trước khi đổ bộ lên mặt trăng, các phi hành gia từ Apollo 11 đến Apollo 17 đều phải tập luyện trên mặt đất để thuộc lòng từng động tác sẽ thực hiện trên mặt trăng, bằng cách nhắc đi nhắc lại từ A đến Z các động tác chi tiết, cái nào cũng hàng trăm lần. Vì thế mà vô tình hay cố ý - có người cho rằng các phi hành gia từ Apollo 11 đến Apopllo 17 không hề lên mặt trăng bao giờ, các cuốn phim tưởng chừng là được thu hình trên đất chị Hằng, thực ra đã được nguỵ tạo ở hành tinh này!

Đặc điểm thứ ba của một người có nhân cách là trân trọng lời hứa (honorer la promesse). Một thí dụ đơn giản: một người gọi điện thoại muốn nói chuyện với ông A trong một cơ quan; lúc đó ông A đi vắng và người giữ điện thoại hẹn người gọi mười lăm phút sau gọi lại; người gọi đồng ý. Mười lăm phút sau, ông A chờ cú điện thoại nhưng không thấy người gọi gọi lại. Một người tới nhà ông X và tỏ ý muốn gặp ông chủ nhà. Ông này đi vắng và người nhà hẹn người đó 12 giờ trưa quay lại gặp ông X - khách nhận lời. 12 giờ trưa, ông X "mũ cao, áo dài" ngồi đợi nhưng không thấy ông khách quay lại!

Hồi tôi còn đi học, dù ở cấp 1,2,3 hay đại học, thầy không bao giờ nghỉ, bỏ giờ dạy, thậm chí không bao giờ đến trễ (trống vào lớp, học trò xếp hàng trước cửa lớp, thầy tới, ra lệnh vào lớp, chúng tôi mới tới chỗ ngồi).
Tục ngữ Pháp có câu: "Lời hứa là một món nợ" (La promesse est une dette). Ta cũng nói: "Quân tử nhất ngôn", quả thật "tiểu nhân mới đa ngôn" mà rút cuộc không thực thi một "ngôn" nào cả! Làm viêc theo lối tùy tiện, gặp chăng hay chớ, thì không bao giờ tiến hành được, nước không bao giờ khá được.

Một yếu tố hàng đầu trong nhiệm vụ rèn luyện của sinh viên, ấy là tự học. Trong khoảng từ 18 đến 45 tuổi, thanh niên có thể làm việc 8 giờ một ngày (còn lại 8 giờ để ngủ, 8 giờ để ăn uống, nghỉ ngơi, giải trí). Như vậy một tuần học với thầy cô là 25 giờ, còn 15 giờ còn lại là để tự học.

Thế nào là tự học? Trước hết là đọc giáo trình của thầy cô trước ở nhà, trước khi vào lớp. Như thế cũng hiểu được 70% bài học. Trong giờ học, hết sức chú ý khi thầy cô giảng đến chỗ 30% mà mình  chưa hiểu, ghi chép tất cả những gì mình nghe thấy, những gì ghi lên bảng. Hết giờ cũng hiểu được 90% bài học. Sau giờ học, trong vòng một tuần lễ, dùng giáo trình, những điều ghi được trong lớp, sách giáo khoa khác nếu có, để soạn một bài đầy đủ mà bây giờ mình hiểu được 95%. Còn lại 5% có thể hỏi lại các bạn trong những buổi học nhóm, tốt hơn hết là hỏi thầy cô trong những buổi học sau để hiểu được 100%.

Thư viện là một giảng đường thứ hai, thầy cô là các tác giả sách giáo khoa khắp năm châu. Nên tới đó để mà, như Louis de Broglie đã nói: "Suy tư lâu lung trong trầm tư mặc tưởng".

Nhưng muốn tham khảo sách báo trong thư viện, phải thành thạo ít ra là hai ngoại ngữ quốc tế, vì hầu hết các tài liệu không viết bằng tiếng Việt. Một ngoại ngữ quốc tế (thí dụ tiếng Anh) cũng chỉ là khí cụ của một nền văn minh (văn minh Anglo-Saxon) dù nền văn minh này phổ biến tới đâu và phát triển tới đâu. Một ngoại ngữ quốc tế nữa (thí dụ tiếng Pháp) tiêu biểu cho một nền văn minh nữa (văn minh Gréco-Latin) sẽ bao phủ quá nữa nền văn minh nhân loại.

Ngoại ngữ phải học càng sớm càng tốt, khi mà trí nhớ còn trong trắng, sáng suốt. Học càng nhiều giờ càng tốt (ở lớp 10 và lớp 11 tôi được học 6 giờ Anh văn một tuần). Và nên luôn dùng đến, đừng bỏ bẵng đi, lưỡi cày sẽ rỉ. Nếu chỉ để nghiên cứu thì có thể coi một sinh ngữ quốc tế là một tử ngữ, nghĩa là chỉ hiểu được các văn bản viết bằng ngoại ngữ đó thôi, dịch được các bài đó sang tiếng Việt. Nhưng muốn giao lưu quốc tế, tham dự các hội nghị quốc tế, thì phải đọc được sinh ngữ đó, nói được sinh ngữ đó, hiểu được khi nghe người ta nói bằng sinh ngữ đó.

Abstract:
In student education, the personality is the first importance
Personality includes exactitude, assiduity and promise respect
Student must train self - studying and well knowing two foreign languages

Saturday, March 24, 2012

Chất lượng đào tạo đại học: yếu tố quyết định và biện pháp thực hiện

* Bài viết của GS Ngô Gia Hy đăng trong Tập tin Xuân Kỷ Mão 99 của trường Đại học Hùng Vương (trang 5).

Trong giáo dục, mục tiêu là cơ sở chủ yếu cho đào tạo. Nếu không xác định rõ ràng mục tiêu thì bể học mênh mông, sẽ biết đi về đâu và đi đường nào. Tuy nhiên mục tiêu phải xác định bằng các công việc mà sinh viên một khi tốt nghiệp sẽ làm được, theo đòi hỏi của thực tế chứ không phải bằng những kiến thức và hiểu biết. Bởi vì biết mà không làm được thì chỉ là lý thuyết suông. Hòn đá thử vàng phải là công việc chứ không là lời và ý.

Mục tiêu của đại học là phát triển bốn mặt của con người. Trong những thập niên trước đây, các nhà giáo dục chỉ nói về kiến thức, về kỹ năng, mặt hành vi mà coi nhẹ hay không nói đến mặt nhân cách.
- Mặt kiến thức là hiểu sâu, biết rộng vượt khỏi vòng chữ nghĩa để đi đến tìm sự thật.
- Mặt kỹ năng là khéo léo và tinh xảo để đi đến sáng tạo.
- Mặt hành vi là quyết tâm, bền chí để đi đến say mê và hoà mình vào xã hội.

Nhưng thiếu nhân cách tức thiếu sự biết mình và phát triển các đức tính hay nói cho rõ hơn là thiếu đạo đức thì kiến thức, kỹ năng, hành vi chỉ thoả mãn tham vọng cá nhân và đôi khi là tai hoạ cho xã hội. Lịch sử nhân loại và những việc đang xảy ở một số vùng trên thế giới đã nói lên điều này. Do đó xin đề nghị:

Trong mỗi khoa cần xác định rõ ràng những mục tiêu tổng quát và những mục tiêu riêng biệt:
1. Mục tiêu tổng quát là mục tiêu đào tạo của Khoa theo từng mặt của con người như đã trình bày ở trên.
2. Mục tiêu riêng biệt gồm:
a) Mục tiêu các bộ môn
b) Mục tiêu của bài giảng và bài thực tập
Hai loại mục tiêu này sẽ hướng vào mục tiêu chung.

NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO VÀ BIỆN PHÁP ĐỀ NGHỊ QUYẾT ĐỊNH

I. Nhân tố chính: Là quá trình đào tạo với hai loại yếu tố: yếu tố vòng ngoài và yếu tố vòng trong.

1. Yếu tố vòng ngoài: là cơ sở phương tiện và quản lý
2. Yếu tố vòng trong : là dạy và học theo một chương trình và có phương pháp, tức là thầy và trò trong mối liên hệ hai chiều qua lại.

Trong hai loại yếu tố thì yếu tố vòng trong tức là dạy và học là then chốt nhưng với trò là chủ thể và là yếu tố quyết định chung cục.

Như vậy bài toán được đặt ra cho mỗi trường là bằng mọi giá thực hiện được những nhân tố nói trên, trong đó nhân tố vòng trong là chủ chốt. Nói một cách khác, chất lượng đào tạo đại học phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng dạy và chất lượng học tức thầy và trò.

Chất lượng của thầy là:
- Giỏi và nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy cũng như nghiên cứu khoa học
- Tận tâm và thương trò
- Say mê với sự nghiệp, coi sự nghiệp là lẽ sống
- Có phương pháp giảng dạy.

Chất lượng của trò là:
- kiên trì, khiêm tốn và trung thực.
- Có phương pháp học tập và nhất là tự học(thư viện, sách giáo khoa, tạp chí, sinh hoạt)

II. Nhân tố phụ: nhân tố phụ là đầu vào và đầu ra

1. Đầu vào: để nâng cao chất lượng đầu vào, đề nghị:
- Tại trung học phổ thông hoàn chỉnh việc sửa soạn cho sinh viên vào đại học
- Giảng dạy phương pháp học tập đại học
- Sĩ số lấy vào phù hợp với đội ngũ thầy cô, nhất là thầy cơ hữu, cơ sở, phương tiện , điều kiện của trường.

2. Đầu ra: Đánh giá đầu ra phải dựa vào mục tiêu. Muốn nâng cao chất lượng đầu ra, trong quá trình đào tạo sẽ:
- Kết hợp chặt chẽ giữa trường và các đơn vị sản xuất, kinh doanh, khoa học…bởi vì đây là những trường học có giá ttrị thực tiễn với những thành công và thất bại mà một khi ra trường, sinh viên sẽ phải trực tiếp đối đầu. Một đại học khép kín thiếu bài học của thực tiễn thì sẽ không đảm bảo được mục tiêu đào tạo  và giảm chất lượng đầu ra. Trên quan điểm này, cần mời các chủ xí nghiệp và cơ sở khoa học tham gia vào quá trình đào tạo.
- Theo dõi sát quá trình học tập của mỗi sinh viên và kiểm tra thường xuyên (cá nhân hoá đào tạo)
- Mở rộng giao lưu quốc tế để trao đổi kinh nghiệm và học hỏi.

KẾT LUẬN

Chất lượng đào tạo của một đại học là một kết quả mà mọi thành phần, mọi tổ chức của đại học đều tham gia nhưng cuối cùng thì thầy và trò là những yếu tố can hệ nhất.

Friday, March 23, 2012

Quan niệm về đại học tư - cái khó và cái dễ

* Bài viết của GS. Ngô Gia Hy đăng trên báo Sài Gòn Giải Phóng số ra ngày 10/08/1993.

Ở một số nước, từ lâu đã có hai hệ thống đại học công và tư song song cùng phát triển. Ở miền Nam trước năm 1975 cũng có một số kinh  nghiệm. Gọi là tư khi nào không phải nhà nước thành lập và điều hành. Tư ở đây có thể là một người, một nhóm người hay một tập thể có uy tín, có điều kiện vật chất và được tín nhiệm đứng lên mở trường và tự quản. Tự quản có thể thành công hay thất bại, một phần là do khả năng quản lý, nhưng phần chính là do chất lượng đào tạo thấp hay cao (mà suy cho cùng cũng do khả năng quản lý). Cao thì dân tin, thấp thì dân bỏ, hay Nhà Nước bắt đóng cửa và giải tán. Bởi vậy có những đại học tư nổi tiếng như Đại Học Harvard ở Hoa Kỳ đã đào tạo được những nhà bác học và những nhân tài. Những cũng ở Hoa Kỳ đã có những đại học tư sụp đổ sau một thời gian ngắn hoạt động. Đầu thế kỷ này đã có gần 100  đại học y khoa tư ở Hoa Kỳ phải đóng cửa sau bản phúc trình của Flexner vì chất lượng đào tạo quá kém, kỷ luật không nghiêm và nhất là vì theo đuổi lợi nhuận.

Thiết nghĩ đây là một bài học đáng giá cho những ai muốn mở đại học tư, vì đại học tư là một sự nghiệp chứ không phải là một xí nghiệp. Mà đã là một sự nghiệp thì phải có lý tưởng để theo đuổi và triết lý để chỉ đạo.
Đại học không có bờ bến, chỉ có trước mà không có sau, chỉ có dưới mà không có trên, bởi vì cái biết thì có giới hạn, mà cái không biết thì khôn cùng.

Đại học là mở rộng cửa đón nhận bất cứ ai, không hạn kỳ tuổi muốn bước vào ngưỡng cửa, miễn là đạt tiêu chuẩn yêu cầu và không khép kín (khép kín đối với nội bộ và khép kín đối với bên ngoài). Đại học có nhiệm vụ tìm hiểu những nhu cầu của đát nước và là nơi mà vị nguyên thủ đến trình bày và trao đổi những vấn đề quan trọng của đất nước. Đại học không chỉ dạy nghề mà còn đào tạo con người với bản chất đa năng và những gì cao đẹp của nó. Điều này chỉ thực hiện được trong một khuôn viên viện đại học rộng lớn tổ chức và sinh hoạt để đạt được mục tiêu trên. Trong khuôn viên này, không còn có sự xa cách giữa trường này và trường nọ, khoa này với khoa khác, giữa thầy và trò. Sinh viên ở đây không chỉ được học chữ và học nghề, mà còn học tất cả những gì mình thích, học ăn học nói, học võ thuật, nghệ thuật và học lãnh đạo, nói tóm lại là học làm người. Họ còn tìm thấy ở đây những điều kiện để sống tự túc, họ sẽ là người trông nom thư viện, thư quán, phục dịch trong quán ăn… ngoài giờ học tập. Ơ đây là gia đình của họ, một đại gia đình sống trong tình thương và giúp đỡ. Khuôn viên đại học là một xã hội thu nhỏ, một "làng" theo nếp sống của Việt Nam.

Quan niệm như vậy thì ngoài yếu tố nhân sự, cơ sở, chương trình kế hoạch, tài chánh, phương tiện, quản trị, để thành công đại học cần thêm yếu tố đường hướng và phương pháp đào tạo. Yếu tố này thể hiện tinh thần của một trường đại học và phản ánh một văn hoá dân tộc.

Đi từ không đến có, từ hai bàn tay trắng xây dựng sự nghiệp thì chắc chắn phải khó, mà nghĩ cho cùng, ở đời việc gì lớn mà không khó. Nhưng khó sẽ vượt qua và thành dễ, nếu người chủ trương thành lập đại học làm cho người chứ không phải cho mình. Lúc đó sẽ có hàng ngàn, hàng triệu bàn tay nâng đỡ, bởi vì như vậy là trực tiếp hay gián tiếp cùng xây dựng tương lai cho con cháu và đất nước. Nhờ vậy mà thành công. Vả chăng, đại học tư hiện thời là một nhu cầu và một thử thách. Nhu cầu vì sự hiếu học của người mình trong khi đại học công có giới hạn. Thử thách vì nếu thành công, chứng tỏ nền kinh tế quốc gia vững mạnh, dân trí cao. Nó còn thể hiện tinh thần đùm bọc của một mẹ đẻ ra trăm trứng, trong cùng một bào thai, và ý nghĩa nuôi dưỡng trăm họ của bánh chưng bánh dày. Nói như thế để quan niệm rằng đại học tư không phải chỉ là một công cuộc của một người hay một nhóm người, mà là của tất cả những ai tha thiết xây dựng cho con cháu mai sau.

Thursday, March 22, 2012

Có một đại học như thế tại Việt Nam

* Trích tài liệu lưu hành nội bộ "Có một đại học như thế tại Việt Nam: Trường Đại học Dân lập Hùng Vương, Quá trình hình thành và phát triển (1993-2000)" do các thành viên Hội đồng Sáng lập trường Đại học Dân lập Hùng Vương biên soạn.

Năm 1919, khoa thi nho học cuối cùng ở Việt Nam đã kết thúc một thời kỳ dài hơn 800 năm của các trường lớp đại học do dân lập ra ở Việt Nam, bởi những nhà nho đỗ đạt thành lập và giảng dạy. Sau này chỉ còn lại trường đại học của nhà nước thời chính quyền thực dân hay thời Việt Nam độc lập và chiến tranh, trừ tại Miền Nam có một số đại học tư, không phải do chính quyền thành lập, cụ thể là đại học Đà Lạt, Minh Đức, Vạn Hạnh…

Trường Đại Học Dân lập Hùng Vương được thành lập năm 1995 là một trong những trường đại học do dân lập ra trong thời kỳ đổi mới, đặc biệt trong thời kỳ có chủ trương của Đảng và Nhà Nước xã hội hoá giáo dục, xây dựng một nền văn hoá tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc.

Trong 6 năm vừa qua, Trường Đại Học Dân lập Hùng Vương đã có nhiều nỗ lực trong hình thành chiến lược thành lập và phát triển Trường, một hướng đi riêng trong các hoạt động cụ thể từ kế hoạch phát triển, tài chính, đào tạo, hoạt động ngoại khóa cùng công tác sinh viên, công tác nghiên cứu khoa học và văn hóa dân tộc, xây dựng môn phương pháp học tập đại học, thư viện theo mô hình hiện đại, làm chuyên đề, bài tập nghiên cứu, luận văn tốt nghiệp, tư vấn nghề nghiệp, học việc hè, ngày nghề nghiệp, tiếp thị, quảng bá, đối ngoại, bảo trợ sinh viên, y học cổ truyền…

Mỗi hoạt động trong thời gian vừa qua của Trường đã được những người sáng lập tổng kết đóng thành từng tập tư liệu truyền thống. Mỗi tư liệu truyền thống dày trên dưới 100 trang trong đó có phần tổng kết của mỗi hoạt động. Riêng tập này bao gồm tất cả các phần tổng kết, đánh giá chung cũng như riêng của từng hoạt động và kèm theo có một số văn bản, bài phát biểu của những người sáng lập.

Sau 6 năm hoạt động cùng với 2 năm chuẩn bị thành lập Trường, những người sáng lập hầu hết là những người đã cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp giáo dục Việt Nam, đã đúc kết những kinh nghiệm và nghiên cứu giáo dục của mình cùng vận dụng trong thực tế vào việc xây dựng Trường Đại Học Dân lập Hùng Vương.

Ngày 17 tháng 8 năm 2000, Thủ tướng ban hành qui chế số 86/2000/QĐ-TTg về “quy chế đại học dân lập”, quy định những người trên 70 tuổi không được tham gia Hội Đồng Quản Trị cũng như Ban Giám Hiệu. Quy chế này đã khiến hầu hết những thành viên sáng lập trường đã quá tuổi 70 không còn tham gia lãnh đạo Trường, dự vào những quyết định quan trọng của Trường. Chính vì vậy, những tập tư liệu tổng kết sẽ là những tập tư liệu di sản truyền thống của Trường và những người sáng lập có ước nguyện những người lãnh đạo kế tục của Trường tiếp nhận và tiếp bước. Rất mong những suy nghĩ và hành động trong những năm qua của những người sáng lập trường được phát huy một cách tối đa.

Hoài bão của những người sáng lập thể hiện trong mục tiêu của Trường là góp phần xây dựng một nền giáo dục đại học vừa mang tính Việt Nam vừa mang tính hiện đại, sánh với các nước tiên tiến trên thế giới, trước hết là các nước trong khu vực Đông Nam Á. Tâm huyết của những người sáng lập theo tôn chỉ bất vụ lợi, những người góp vốn không chia lời, không hoàn lại. Chủ trương quan trọng của những ngừơi sáng lập là "Chất lượng là mục tiêu đào tạo hàng đầu".

Sáu tuổi đời của một đại học thật còn quá non trẻ! Với hai bàn tay trắng, với vốn liếng chất xám, uy tín và tâm huyết, khi chưa có Trường, những người sáng lập huy động được hơn 2 tỷ đồng. Sau sáu năm hoạt động, dù không chạy theo số lượng và doanh thu, những người sáng lập đã để dành được hơn 4 tỷ đồng để cố có được một khu đất xây dựng cơ sở đầu tiên của Trường tại khu Nam đô thị mới (giá bồi hoàn là 45000đ /m2).

Sau sáu năm hoạt động, hàng ngàn sinh viên đã tốt nghiệp, hầu hết sinh viên có công ăn việc làm, được xã hội chấp nhận hoan nghênh. Số dự thi trong kỳ tuyển sinh năm 2001 đã tăng gấp 3 lần so với kỳ tuyển sinh năm 2000 và đầu vào được cải thiện, điểm chuẩn cao, có ngành học như Công nghệ thông tin là 31/40 điểm.

Những người sáng lập tin tưởng với thành quả đã gặt hái được như thế, những người sáng lập có khả năng huy động từng bước sự đóng góp của xã hội ở trong và ngoài nước xây dựng cơ sở đầu tiên ở khu Nam Đô Thị Mới, một địa điểm rất gần trung tâm thành phố, gần hầu hết các quận quan trọng trong thành phố như Quận 1, Quận 3, Quận 5, Quận 6, Quận 7, Quận 8, Quận 10, Quận 11, nằm trên một đại lộ rộng 120m mang tầm vóc quốc tế, chạy song song và cách đại lộ Đông Tây khoảng 2 km, một đường xương sống và là cửa ngõ giao lưu của thành phố. Bỏ địa điểm này là bỏ một địa điểm tốt có một không hai, khó mà có cơ hội nào lần thứ hai! Những người lãnh đạo Trường phải có một tầm nhìn chiến lược mới thấy tầm quan trọng của địa điểm đối với sự phát triển Trường mang tầm vóc quốc tế.

GS Ngô Gia Hy đã từng nói rằng: 'Trường Đại Học Dân Lập Hùng Vương là trường của thầy và trò, trước hết là của hơn 4000 thầy trò hôm nay và hàng vạn thầy trò trong tương lai.

Thầy trò nào chỉ thực sự là chủ ngôi trường này nếu thực sự chia sẻ với tôn chỉ, chủ trương của những người sáng lập đã vạch ra. Rất mong thầy trò và những mạnh thường quân ở trong và ngoài nước hãy tích cực hỗ trợ để ước mơ của những người sáng lập trường xây dựng "campus" đầu tiên tại Khu Nam Đô Thị Mới sớm trở thành hiện thực.

Dù thế nào đi nữa, thì đã có một đại học như thế: “Đại Học Dân Lập Hùng Vương" tại Việt Nam!

Chúng tôi cũng rất mong những người Việt Nam có tâm huyết với sự nghiệp giáo dục Việt Nam hãy cùng chúng tôi noi gương những nhà giáo lớn như Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phạm Văn Nghị… để tiếp tục xây dựng "một đại học như thế tại Việt Nam."

Tp.Hồ Chí Minh ngày 9 tháng 9 năm 2001

GS Ngô Gia Hy
Nguyên chủ tịch Hội Đồng Sáng Lập

Ông Nguyễn Nhã
Đại diện thành phần sáng lập trong Hội Đồng Quản Trị nhiệm kỳ II

Ông Hà Bính Thân
Sáng lập viên, đại diện Cơ Quan Bảo Trợ Sáng Lập Trường (Cty Lạc Việt)